NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA
CUNG KỈNH ÐỨC THẾ TÔN, BẬC ỨNG CÚNG, ÐẤNG CHÁNH ÐẲNG GIÁC


MẪU ÐỀ (Mātikā) (1)

HAI MƯƠI HAI ÐẦU ÐỀ TAM (BĀVĪSATI TIKAMĀTIKĀ) (2)

[1] - Các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký.

- Các pháp tương ưng lạc thọ, các pháp tương ưng khổ thọ, các pháp tương ưng phi khổ phi lạc thọ.

- Các pháp dị thục, các pháp dị thục nhân, các pháp phi dị thục phi dị thục nhân.

- Các pháp thành do thủ cảnh thủ, các pháp phi thành do thủ mà cảnh thủ, các pháp phi thành do thủ và phi cảnh thủ.

- Các pháp phiền toái cảnh phiền não, các pháp phi phiền toái mà cảnh phiền não, các pháp phi phiền toái và phi cảnh phiền não.

- Các pháp hữu tầm hữu tứ, các pháp vô tầm hữu tứ, các pháp vô tầm vô tứ.

- Các pháp câu hành hỷ, các pháp câu hành lạc, các pháp câu hành xả.

- Các pháp đáng do tri kiến đoạn trừ (3), các pháp đáng do tu tiến (4) đoạn trừ, các pháp không đáng tri kiến, không đáng tu tiến đoạn trừ.

- Các pháp hữu nhân đáng do tri kiến đoạn trừ, các pháp hữu nhân đáng do tu tiến đoạn trừ, các pháp hữu nhân đáng do tri kiến tu tiến đoạn trừ.

- Các pháp nhân đến tích tập, các pháp nhân đến tịch diệt, các pháp phi nhân đến tích tập phi nhân đến tịch diệt.

- Các pháp hữu học, các pháp vô học, các pháp phi hữu học phi vô học.

- Các pháp hy thiểu, các pháp đáo đại, các pháp vô lượng.

- Các pháp có cảnh hy thiểu, các pháp có cảnh đáo đại, các pháp có cảnh vô lượng.

- Các pháp ty hạ, các pháp trung bình, các pháp tinh lương.

- Các pháp cố định (5) phần tà, các pháp cố định phần chánh (6) các pháp phi cố định (7).

- Các pháp có đạo là cảnh, các pháp có đạo là nhân, các pháp có đạo là trưởng.

- Các pháp hiện sanh, các pháp vị sanh, các pháp chuẩn sanh.

- Các pháp quá khứ, các pháp vị lai, các pháp hiện tại.

- Các pháp có cảnh quá khứ, các pháp có cảnh vị lai, các pháp có cảnh hiện tại.

- Các pháp nội phần, các pháp ngoại phần, các pháp nội ngoại phần.

- Các pháp có cảnh nội phần, các pháp có cảnh ngoại phần, các pháp có cảnh nội ngoại phần.

- Các pháp hữu kiến hữu đối chiếu, các pháp vô kiến hữu đối chiếu, các pháp vô kiến vô đối chiếu.

DỨT HAI MƯƠI HAI ÐẦU ÐỀ TAM

MỘT TRĂM ÐẦU ÐỀ NHỊ (DUKAMĀTIKĀ) (8)

PHẦN TỤ NHÂN (Hetugocchakaṃ) (9)

[2] - Các pháp nhân, các pháp phi nhân.

- Các pháp hữu nhân, các pháp vô nhân.

- Các pháp tương ưng nhân, các pháp bất tương nhân.

- Các pháp nhân và hữu nhân, các pháp hữu nhân mà phi nhân.

- Các pháp nhân và tương ưng nhân, các pháp tương ưng nhân mà phi nhân.

- Các pháp phi nhân mà hữu nhân, các pháp phi nhân và vô nhân.

DỨT PHẦN TỤ NHÂN

PHẦN NHỊ ÐỀ TIỂU ÐỈNH (Cūḷantaraduka) (10)

[3] - Các pháp hữu duyên, các pháp vô duyên.

- Các pháp hữu vi, các pháp vô vi.

- Các pháp hữu kiến, các pháp vô kiến.

- Các pháp hữu đối chiếu, các pháp vô đối chiếu.

- Các pháp sắc, các pháp phi sắc.

- Các pháp hiệp thế, các pháp siêu thế.

- Các pháp có phần đáng bị biết, các pháp có phần không đáng bị biết.

DỨT PHẦN NHỊ ÐỀ TIỂU ÐỈNH

PHẦN TỤ LẬU (Āsavagocchakaṃ) (11)

[4] - Các pháp lậu, các pháp phi lậu.

- Các pháp có cảnh lậu, các pháp phi cảnh lậu.

- Các pháp tương ưng lậu, các pháp bất tương ưng lậu.

- Các pháp lậu và cảnh lậu, các pháp tương ưng lậu mà phi lậu.

- Các pháp lậu và tương ưng lậu, các pháp tương ưng lậu mà phi lậu.

- Các pháp bất tương ưng lậu mà cảnh lậu, các pháp bất tương ưng lậu và phi cảnh lậu.

DỨT PHẦN TỤ LẬU

PHẦN TỤ TRIỀN (Saññogocchakaṃ) (12)

[5] - Các pháp triền, các pháp phi triền.

- Các pháp cảnh triền, các pháp phi cảnh triền.

- Các pháp tương ưng triền, các pháp bất tương ưng triền.

- Các pháp triền và cảnh triền, các pháp cảnh triền mà phi triền.

- Các pháp triền và tương ưng triền, các pháp tương ưng triền mà phi triền.

- Các pháp bất tương ưng triền mà cảnh triền, các pháp bất tương ưng triền mà phi cảnh triền.

DỨT PHẦN TỤ TRIỀN

PHẦN TỤ PHƯỢC (Ganthagocchakaṃ) (13)

[9] - Các pháp phược, các pháp phi phược.

- Các pháp cảnh phược, các pháp phi cảnh phược.

- Các pháp tương ưng phược, các pháp bất tương ưng phược.

- Các pháp phược và cảnh phược, các pháp cảnh cái mà phi phược.

- Các pháp phược và tương ưng phược, các pháp tương ưng phược mà phi phược.

- Các pháp bất tương ưng phược mà cảnh phược, các pháp bất tương ưng phược và phi cảnh phược.

DỨT PHẦN TỤ PHƯỢC

PHẦN TỤ BỘC (Oghagocchakaṃ) (14)

[7] - Các pháp bộc, các pháp phi bộc.

- Các pháp cảnh bộc, các pháp phi cảnh bộc.

- Các pháp tương ưng bộc, các pháp bất tương ưng bộc.

- Các pháp bộc và cảnh bộc, các pháp cảnh bộc mà phi bộc.

- Các pháp bộc và tương ưng bộc, các pháp tương ưng bộc mà phi bộc.

- Các pháp bất tương ưng bộc mà cảnh bộc, các pháp bất tương ưng bộc và phi cảnh bộc.

DỨT PHẦN TỤ BỘC

PHẦN TỤ PHỐI (Yogagocchakaṃ) (15)

[8] - Các pháp phối, các pháp phi phối.

- Các pháp cảnh phối, các pháp phi cảnh phối.

- Các pháp tương ưng phối, các pháp bất tương ưng phối.

- Các pháp phối và cảnh phối, các pháp cảnh phối mà phi phối.

- Các pháp phối và tương ưng phối, các pháp tương ưng phối mà phi phối.

- Các pháp bất tương ưng phối mà cảnh phối, các pháp bất tương ưng phối và phi cảnh phối.

DỨT PHẦN TỤ PHỐI

PHẦN TỤ CÁI (Nīvaraṇagocchakaṃ) (16)

[9] - Các pháp cái, các pháp phi cái.

- Các pháp cảnh cái, các pháp phi cảnh cái.

- Các pháp tương ưng cái, các pháp bất tương ưng cái.

- Các pháp cái và cảnh cái, các pháp cảnh cái mà phi cái.

- Các pháp cái và tương ưng cái, các pháp tương ưng cái mà phi cái.

- Các pháp bất tương ưng cái mà cảnh cái, các pháp bất tương ưng cái và phi cảnh cái.

DỨT PHẦN TỤ CÁI

PHẦN TỤ KHINH THỊ (Parāmāsagocchakaṃ) (17)

[10] - Các pháp khinh thị, các pháp phi khinh thị.

- Các pháp cảnh khinh thị, các pháp phi cảnh khinh thị.

- Các pháp tương ưng khinh thị, các pháp bất tương ưng khinh thị.

- Các pháp khinh thị và cảnh khinh thị, các pháp cảnh khinh thị mà phi khinh thị.

- Các pháp bất tương ưng khinh thị mà cảnh khinh thị, các pháp bất tương ưng khinh thị và phi cảnh khinh thị.

DỨT PHẦN TỤ KHINH THỊ

PHẦN NHỊ ÐỀ ÐẠI ÐỈNH (Mahantaradukaṃ) (18)

[11] - Các pháp hữu cảnh, các pháp vô cảnh.

- Các pháp tâm, các pháp phi tâm.

- Các pháp sở hữu tâm, các pháp phi sở hữu tâm.

- Các pháp tương ưng tâm, các pháp bất tương ưng tâm.

- Các pháp hòa với tâm, các pháp phi hòa với tâm.

- Các pháp có tâm sở sanh, các pháp phi tâm sở sanh.

- Các pháp đồng hiện hữu với tâm, các pháp phi đồng hiện hữu với tâm.

- Các pháp tùy chuyển với tâm, các pháp phi tùy chuyển với tâm.

- Các pháp hòa sở sanh với tâm, các pháp phi hòa sở sanh với tâm.

- Các pháp hòa sở sanh đồng hiện hữu với tâm, các pháp phi hòa sở sanh đồng hiện hữu với tâm.

- Các pháp hòa sở sanh tùy chuyên với tâm, các pháp phi hòa sở sanh tùy chuyên với tâm.

- Các pháp nội phần, các pháp ngoại phần.

- Các pháp y sinh, các pháp phi y sinh.

- Các pháp thành do thủ, các pháp phi thành do thủ.

DỨT PHẦN NHỊ ÐỀ ÐẠI ÐỈNH

PHẦN TỤ THỦ (Upādānagocchakaṃ) (19)

[12] - Các pháp thủ, các pháp phi thủ.

- Các pháp cảnh thủ, các pháp phi cảnh thủ

- Các pháp tương ưng thủ, các pháp bất tương ưng thủ.

- Các pháp thủ và cảnh thủ, các pháp cảnh thủ mà phi thủ.

- Các pháp thủ và tương ưng thủ, các pháp tương ưng thủ mà phi thủ.

- Các pháp bất tương ưng thủ mà cảnh thủ,các pháp bất tương ưng thủ và phi cảnh thủ.

DỨT PHẦN TỤ THỦ

PHẦN TỤ PHIỀN NÃO (Kilesagocchakaṃ) (20)

[13 - Các pháp phiền não, các pháp phi phiền não.

- Các pháp cảnh phiền não, các pháp phi cảnh phiền não.

- Các pháp phiền toái, các pháp phi phiền toái.

- Các pháp tương ưng phiền não, các pháp bất tương ưng phiền não.

- Các pháp phiền não và cảnh phiền não, các pháp cảnh phiền não mà phi phiền não.

- Các pháp phiền não và phiền toái, các pháp phiền toái mà phi phiền não.

- Các pháp phiền não và tương ưng phiền não, các pháp tương ưng phiền não mà phi phiền não.

- Các pháp bất tương ưng phiền não mà cảnh phiền não, các pháp bất tương ưng phiền não và phi cảnh phiền não.

DỨT PHẦN TỤ PHIỀN NÃO

PHẦN NHỊ ÐỀ YÊU BỐI (Piṭṭhidukaṃ) (21)

[14 ] - Các pháp do tri kiến đoạn trừ, các pháp không đáng do tri kiến đoạn trừ.

- Các pháp đáng do tu tiến đoạn trừ, các pháp không đáng do tu tiến đoạn trừ.

- Các pháp hữu nhân đáng do tri kiến đoạn trừ, các pháp phi hữu nhân đáng do tri kiến đoạn trừ.

- Các pháp hữu nhân đáng do tu tiến đoạn trừ, các pháp phi hữu nhân đáng do tu tiến đoạn trừ.

- Các pháp hữu tầm, các pháp vô tầm.

- Các pháp hữu tứ, các pháp vô tứ.

- Các pháp hữu hỷ, các pháp vô hỷ.

- Các pháp câu hành hỷ, các pháp phi câu hành hỷ.

- Các pháp câu hành lạc, các pháp phi câu hành lạc.

- Các pháp câu hành xả, các pháp phi câu hành xả.

- Các pháp dục giới, các pháp phi dục giới.

- Các pháp sắc giới, các pháp phi sắc giới.

- Các pháp vô sắc giới, các pháp phi vô sắc giới.

- Các pháp hệ thuộc, các pháp phi hệ thuộc.

- Các pháp dẫn xuất, các pháp phi dẫn xuất.

- Các pháp cố định, các pháp phi cố định.

- Các pháp hữu thượng, các pháp vô thượng.

- Các pháp hữu tranh y, các pháp vô tranh y.

DỨT NHỊ ÐỀ YÊU BỐI

DỨT MẪU ÐỀ THEO VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma mātikā) (22)

PHẦN MẪU ÐỀ THEO KINH (Suttantamātikā) (23)

[15] - Các pháp phần minh, các pháp phần vô minh.

- Các pháp ví dụ điển chớp, các pháp ví dụ sấm sét.

- Các pháp ngu nhân, các pháp hiền trí.

- Các pháp hắc, các pháp bạch.

- Các pháp viêm, các pháp phi viêm.

- Các pháp định danh, các pháp cách thức định danh.

- Các pháp ngôn ngữ, các pháp cách thức ngôn ngữ.

- Các pháp chế định, các pháp cách thức chế định.

- Danh và sắc. Vô minh và hữu ái. Hữu kiến và phi hữu kiến.

- Thường kiến và đoạn kiến.

- Hữu biên kiến và vô biên kiến.

- Hữu tiền kiến và hữu hậu kiến.

- Vô tàm và vô úy

- Sự khó dạy và có bạn ác.

- Sự dễ dạy và có bạn lành.

- Thiện xão về tội và thiện xão về xuất tội.

- Thiện xão về nhập định và thiện xão về xuất định.

- Thiện xão về giới, thiện xão về tác ý.

- Thiện xão về xứ, và thiện xão về y tương sinh.

- Thiện xão về vị trí và thiện xão về phi vị trí.

- Chánh trực và nhu thuận.

- Nhẫn nại và nghiêm tịnh.

- Cam ngôn và tiếp đãi.

- Không phòng hộ môn quyền và không tiết độ vật thực.

- Phòng hộ môn quyền và tiết độ vật thực.

- Thất niệm và không tỉnh giác.

- Niệm và tỉnh giác.

- Giác sát lực và tu tiến lực.

- Chỉ tịnh và quán minh.

- Chỉ tịnh ấn chứng và chiếu cố ấn chứng.

- Chiếu cố và bất phóng dật.

- Giới lụy và kiến lụy.

- Giới mãn túc và kiến mãn túc.

- Giới tịnh và kiến tịnh.

- Có bậc kiến tịnh và đối với bậc kiến tịnh như thế có sự tinh cần.

- Người bi động trong những sự kiện đáng bi động và đối với người bi động có sự khéo tinh cần.

- Thái độ không tri túc thiện pháp và thái độ không thối thất tinh cần.

- Minh và giải thoát.

- Trí đoạn tận và trí vô sanh.

DỨT MẪU ÐỀ THEO KINH

-ooOoo-

I. CHƯƠNG TÂM SANH (CITTUPPĀDAKAṆḌAṂ)

PHÁP THIỆN (kusalā dhammā) (1)

TÁM TÂM ÐẠI THIỆN DỤC GIỚI (Aṭṭha kāmāvacaramakākusalacitta)

TÂM THỨ NHẤT (Citta paṭhama) (2)

PHẦN TRÍCH CÚ (Padabhājanīyaṃ)

[16] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm dục giới sanh, câu hành hỷ (3) tương ưng trí (4) gặp cảnh sắc hay cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp hoặc cảnh chi chi, trong khi ấy có xúc, có thọ, có tưởng, có tư, có tâm, có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc, có nhất hành tâm, có tín quyền có cần quyền, có niệm quyền, có định quyền , có tuệ quyền, có ý quyền, có hỷ quyền, có mạng quyền, có chánh kiến, có chánh tư duy, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định, có tín lực, có tấn lực, có niệm lực, có định lực, có tuệ lực, có tàm lực, có úy lực, có vô tham, có vô sân, có vô si, có vô tham ác, có vô sân ác, có chánh kiến có tàm, có úy, có tịnh thân, có tịnh tâm, có khinh thân, có khinh tâm, có nhu thân, có nhu tâm, có thích thân, có thích tâm, có thuần thân, có thuần tâm, có chánh thân, có chánh tâm, có niệm, có tỉnh giác, có chỉ tịnh, có quán minh, có chiếu cố, có bất phóng dật, hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc (5) nào khác liên quan tương sinh  (6). Ðây là cảnh pháp thiện.

[17] - Thế nào là xúc trong khi ấy? (7)

Trong khi ấy, pháp mà đụng chạm,va chạm tư cách đối xúc, trạng thái đối xúc. Ðây là xúc trong khi ấy.

[18] - Thế nào là thọ (8) trong khi ấy?

Trong khi ấy pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, dể chịu thuộc về tâm, sanh từ xúc ý thức giới đó, là trạng thái cảm thọ sảng khoái, dể chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sảng khoái dể chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là thọ trong khi ấy.

[19] - Thế nào là tưởng (9) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhận ra, sự nhận biết, thái độ cố nhận biết sanh từ xúc ý thức giới đó.

[20] - Thế nào là tư (10) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự tính toán, sự cố quyết, thái độ cố quyết, sanh từ xúc ý thức giới đó. Ðây là tư trong khi ấy.

[21] - Thế nào là tâm(11) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức là ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là tâm trong khi ấy.

[22] - Thế nào là tầm (12)trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, sự suy xét, sự chuyên chú, sự hướng tâm sự đem tâm khắn khít cảnh, chánh tư duy. Ðây là tầm trong khi ấy.

[23] - Thế nào là tứ (13)trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự gìn giữ, sự giám sát, sự bám sát, sự chăm nom, trạng thái khắn khít, thái độ xem xét của tâm. Ðây là tứ trong khi ấy.

[24] - Thế nào là hỷ (14) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự mừng vui, sự no vui, sự hân hoan, sự hỷ duyệt, sự hài lòng, sự vui vẻ, sự phấn khởi, sự thích thú, sự hoan hỷ của tâm. Ðây là sự hỷ trong khi ấy.

[25] - Thế nào là lạc (15) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là lạc trong khi ấy.

[26] - Thế nào là nhất hành tâm (16) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là nhất hành tâm trong khi ấy.

[27] - Thế nào là tín quyền (17 trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự tin tưởng, sự tin cậy, sự tín nhiệm, sự tịnh tín ; tín là tín quyền, tín lực. Ðây là tín quyền trong khi ấy.

[28] - Thế nào là tấn quyền (18) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nỗ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn. Ðây là tấn quyền trong khi ấy.

[29] - Thế nào là niệm quyền (19) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tuỳ niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là niệm quyền trong khi ấy.

[30] - Thế nào là định quyền (20) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là định quyền trong khi ấy.

[31] - Thế nào là tuệ quyền (21) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát,thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là tuệ quyền trong khi ấy.

[32] - Thế nào là ý quyền (22) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự biết tức là ý, tâm địa, tâm tạng, bạch định, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là ý quyền trong khi ấy.

[33] - Thế nào là hỷ quyền (23) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là hỷ quyền trong khi ấy.

[34] - Thế nào là mạng quyền (24) trong khi ấy?

Pháp là sự thọ mạng, sự duy trì, sự nuôi sống, sự nuôi dưỡng, sự tiếp diễn, sự tồn tại, sự gìn giữ, sự sống còn, quyền sống còn của các pháp phi sắc đó. Ðây là mạng quyền trong khi ấy.

[35] - Thế nào là chánh kiến (25) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là chánh kiến trong khi ấy.

[36] - Thế nào là chánh tư duy (26) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, sự suy xét, sự chuyên chú, sự hướng tâm, sự đan tâm khắn khít cảnh, sự suy nghĩ chơn chánh. Ðây là chánh tư duy trong khi ấy.

[37] - Thế nào là chánh tinh tấn (27) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp mà thuộc về tâm, có sự cần cố, cố gắng, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nỗ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn. Ðây là chánh tinh tấn trong khi ấy.

[38] - Thế nào là chánh niệm (28) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là chánh niệm trong khi ấy.

[39] - Thế nào là chánh định (29) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ định, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là chánh định trong khi ấy.

[40] - Thế nào là tín lực (30) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự tin tưởng, sự tin cậy, sự tín nhiệm, sự tịnh tín ; tín là tín quyền, tín lực. Ðây là tín lực trong khi ấy.

[41] - Thế nào là tấn lực trong khi ấy? (31)

Trong khi ấy, pháp mà thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nỗ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn. Ðây là tấn lực trong khi ấy.

[42] - Thế nào là niệm lực (32)trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự ghi nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm.

[43] - Thế nào là định lực (33) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là định lực trong khi ấy.

[44] - Thế nào là tuệ lực (34) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là tuệ lực trong khi ấy.

[45] - Thế nào là tàm lực trong khi ấy? (35)

Trong khi ấy, sự mà hổ thẹn với điều đáng hổ thẹn, hổ thẹn với việc phạm vào các ác bất thiện pháp. Ðây là tàm lực trong khi ấy.

[46] - Thế nào là úy lực (36) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà sợ hãi với điều đáng sợ hãi, sợ hãi với việc phạm vào các ác bất thiện pháp. Ðây là úy lực trong khi ấy.

[47] - Thế nào là vô tham trong khi ấy? (37)

Trong khi ấy, sự mà không tham muốn, không nhiễm đắm, không tham đắm, không tham luyến, không quyến luyến, không tham ác, vô tham là căn thiện. Ðây là vô tham trong khi ấy.

[48] - Thế nào là vô sân (38) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà không phiền giận, không hờn giận, thái độ không hờn giận, không sân độc, không sân ác, vô sân là căn thiện. Ðây là vô sân trong khi ấy.

[49] - Thế nào là vô si (39 trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát,thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến, vô si là căn thiện. Ðây là vô si trong khi ấy.

[50] - Thế nào là vô tham ác (40) trong khi ấy.

Trong khi ấy, sự không tham muốn, không nhiễm đắm, không tham đắm, không tham luyến, không quyến luyến, không tham ác, vô tham là căn thiện. Ðây là vô tham ác trong khi ấy.

[51] - Thế nào là vô sân ác (41) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà không phiền giận, không hờn giận, thái độ không hờn giận, không sân độc, không sân ác, vô sân là căn thiện. Ðây là vô sân ác trong khi ấy.

[52] - Thế nào là chánh kiến trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát,thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là chánh kiến trong khi ấy.

[53] - Thế nào là tàm (43) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự hỗ thẹn với điều đáng hổ thẹn, hổ thẹn với việc phạm vào các ác bất thiện pháp. Ðây là tàm trong khi ấy.

[54] - Thế nào là úy (44) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà sợ hãi với điều đáng sợ hãi, sợ hãi với việc phạm vào các ác bất thiện pháp. Ðây là úy trong khi ấy.

[55] - Thế nào là tịnh thân (45) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự yên lặng, tỉnh lặng, lắng dịu, an tịnh, trạng thái an tịnh của thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là tịnh thân trong khi ấy.

[56] - Thế nào là tịnh tâm (46)trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự yên lặng, tỉnh lặng, lắng dịu, an tịnh, trạng thái an tịnh của thức uẩn. Ðây là tịnh tâm trong khi ấy.

[57] - Thế nào là khinh thân (47) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhu nhẹ nhàng, sự biến chuyển nhẹ nhàng, không chậm chạp, không chần chừ của thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là khinh thân trong khi ấy.

[58] - Thế nào là khinh tâm (48) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhẹ nhàng, sự biến chuyển nhẹ nhàng, không chậm chạp, không chần chừ của thức uẩn. Ðây chính là khinh tâm trong khi ấy.

[59] - Thế nào là nhu thân (49) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhu nhuyễn, sự mềm mại, trạng thái không thô cứng, trạng thái không cương ngạnh của thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây chính là nhu thân trong khi ấy.

[60] - Thế nào là nhu tâm (50) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhu nhuyễn, sự mềm maị, trạng thái không thô cứng, trạng thái không cương ngạnh của thức uẩn. Ðây là nhu tâm trong khi ấy.

[61] - Thế nào là Thích Thân (51)trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự thích nghi, cách thích nghi, tình trạng thích nghi của thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là thích thân trong khi ấy.

[62] - Thế nào là thích tâm (52) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự thích nghi, cách thích nghi, tình trạng thích nghi của thức uẩn. Ðây là thích tâm trong khi ấy.

[63] - Thế nào là thuần thân (53) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự thuần thục, cách thuần thục, trạng thái thuần thục của thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là thuần thân trong khi ấy.

[64] - Thế nào là thuần tâm (54) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự thuần thục, cách thuần thục, trạng thái thuần thục của thức uẩn. Ðây là thuần tâm trong khi ấy.

[65] - Thế nào là chánh thân (55) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự ngay thẳng, cách ngay thẳng, không cong queo, không vặn vẹo, không quanh co của thọ uẩn, tưởng uẩn. Ðây là chánh thân trong khi ấy.

[66] - Thế nào là chánh tâm (56) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự ngay thẳng, cách ngay thẳng, không cong quẹo, không vặn vẹo, không quanh co của thức uẩn. Ðây là chánh tâm trong khi ấy.

[67] - Thế nào là niệm (57) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là niệm trong khi ấy.

[68] - Thế nào là tỉnh giác (58) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu biết, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẩn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là tỉnh giác trong khi ấy.

[69] - Thế nào là chỉ tịnh (59) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền định lực, chánh định. Ðây là chỉ tịnh trong khi ấy.

[70] - Thế nào là quán minh (60) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là quán minh trong khi ấy.

[71] - Thế nào là chiếu cố (61) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp mà thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nỗ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn. Ðây là chiếu cố trong khi ấy. [72] - Thế nào là bất phóng dật (62) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững vàng, sự vững trú, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là bất phóng dật trong khi ấy.

[73] - Hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp bất thiện.

DỨT PHẦN TRÍCH CÚ.

DỨT PHẦN THỨ NHẤT BẤT THIÊN TỰ (63)

PHẦN ÐIỀU PHÁP (KOṬṬHĀSAVĀRA)

[74] Lại nữa trong khi ấy có bốn uẩn, có hai xứ, có hai giới, có ba thực, có tám quyền, có năm chi thiền, có năm chi đạo, có bảy lực, có ba nhân, có một xúc, có một thọ, có một tưởng, có một tư, có một tâm, có một thọ uẩn, có một tưởng uẩn, có một hành uẩn, có một thức uẩn, có một ý xứ, có một ý quyền, có một ý thức giới, có một pháp xứ, có một pháp giới; hoặc là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.

[75] - Thế nào là bốn uẩn (1) trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Ðây là bốn uẩn trong khi ấy.

- Thế nào là thọ uẩn (2) trong khi ấy?

Trong khi ấy pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, dễ chịu thuộc về tâm, sanh từ xúc ý thức giới đó, là trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là thọ uẩn trong khi ấy.

- Thế nào là tưởng uẩn (3) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhận ra, sự nhận biết, thái độ nhận biết sanh từ xúc ý thức giới đó. Ðây là tưởng uẩn trong khi ấy.

- Thế nào là hành uẩn (4) trong khi ấy?

Tức xúc, tư, tầm, tứ, hỷ nhất hành tâm, tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân ác, chánh kiến, tàm, úy, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, tỉnh giác, chỉ tịnh, quán minh, chiếu cố, bất phóng dật, hoặc là khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh, ngoại trừ thọ uẩn, ngoại trừ tưởng uẩn, ngoại trừ thức uẩn . Ðây là hành uẩn trong khi ấy.

- Thế nào là thức uẩn (5) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là thức uẩn trong khi ấy.

Và đây là bốn uẩn trong khi ấy.

[76] - Thế nào là hai xứ (6) trong khi ấy?

Tức là ý xứ và pháp xứ.

- Thế nào là ý xứ (7) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là ý xứ trong khi ấy.

- Thế nào là pháp xứ (8) trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là pháp xứ trong khi ấy.

Và đây là hai xứ trong khi ấy.

[77] - Thế nào là hai giới (9) trong khi ấy?

Tức ý thức giới và pháp giới.

- Thế nào là ý thức giới (10) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức là ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là ý thức trong khi ấy.

- Thế nào là pháp giới (11) trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là pháp giới trong khi ấy.

Và đây là hai giới trong khi ấy.

[78] - Thế nào là ba thực (12) trong khi ấy?

Tức xúc thực, ý tư thực và thức thực.

- Thế nào là xúc thực (13) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp mà đụng chạm, va chạm, tư cách đối xúc, trạng thái đối xúc. Ðây là xúc thực trong khi ấy.

- Thế nào là ý tư thực (14) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự tính toán, sự cố quyết, thái độ cố quyết. Ðây là tự thực trong khi ấy.

- Thế nào là thức thực (15) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là thức thực trong khi ấy.

Và đây là ba thực trong khi ấy.

[79] - Thế nào là tám quyền (16) trong khi ấy?

Tức tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, mạng quyền.

- Thế nào là tín quyền (17) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự tin tưởng, sự tin cậy, sự tín nhiệm, sự tịnh tín; tín là tín quyền, tín lực. Ðây là tín quyền trong khi ấy.

- Thế nào là tấn quyền (18) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp mà thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nỗ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn.

- Thế nào là niệm quyền (19) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là niệm quyền trong khi ấy.

- Thế nào là Ðịnh quyền (20) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm, có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là định quyền trong khi ấy.

- Thế nào là tuệ quyền (21) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là tuệ quyền trong khi ấy .

- Thế nào là ý quyền trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là ý quyền trong khi ấy .

- Thế nào là hỷ quyền (22) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự dễ chịu thuộc về tâm, sự cảm giác sảng khoái, dễ chiụ sanh từ tâm xúc. Ðây là hỷ quyền trong khi ấy.

- Thế nào là mạng quyền (23) trong khi ấy?

Sự thọ mạng, sự duy trì, sự nuôi sống, sự nuôi dưỡng, sự tiếp đễn, sự tồn tại, sự gìn giữ, sự sống còn, quyền sống còn, của các pháp phi sắc ấy. Ðây là mạng quyền trong khi ấy.

Và đây là tám quyền trong khi ấy.

[80] - Thế nào là năm chi thiền (24) trong khi ấy?

Tức tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất hành tâm.

- Thế nào là tầm trong khi ấy? (25)

Trong khi ấy, pháp là sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, sự suy xét, sự chuyên chú, sự hướng tâm, sự đem tâm khắn khít cảnh, chánh tư duy. Ðây là tâm trong khi ấy.

- Thế nào là tứ (26) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự gìn giữ, sự giám sát, sự bám sát, sự chăm nom, trạng thái khắn khít, thái độ xem xét của tâm. Ðây là tứ trong khi ấy.

- Thế nào là hỷ (27) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự mừng vui, sự no vui, sự hân hoan, sự hỷ duyệt, sự hài lòng, sự vui vẻ, sự phán khởi, sự thích thú, sự hoan hỷ của tâm. Ðây là hỷ trong khi ấy.

- Thế nào là lạc trong khi ấy (28)

Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự dễ chịu thuộc về tâm, sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là lạc trong khi ấy.

- Thế nào là nhất hành tâm (29) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là nhất hành tâm trong khi ấy.

Và đây là năm chi thiền trong khi ấy.

[81] - Thế nào là năm chi đạo (30) trong khi ấy?

Tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

- Thế nào là chánh kiến (31) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ lựa chọn cân nhắc trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông suốt, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, xắc xảo tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là chánh kiến trong khi ấy.

- Thế nào là chánh tư duy (32) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự tìm cảnh, sự nghỉ ngợi, sự suy xét, sự chuyên chú, sự hướng tâm, sự đem tâm khắn khít cảnh, chánh tư duy. Ðây là chánh tư duy trong khi ấy.

- Thế nào là chánh tinh tấn (33) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp mà thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nổ lực, dóc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn, Ðây là chánh tinh tấn trong khi ấy.

- Thế nào là chánh niệm (34) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đảng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là chánh niệm trong khi ấy.

- Thế nào là chánh định (35) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là chánh định trong khi ấy.

Và đây là năm chi đạo trong khi ấy.

[82] - Thế nào là bảy lực (36) trong khi ấy?

Tức tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực.

- Thế nào là tín lực (37) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự tin tưởng, sự tin cậy, sự tín nhiệm, sự tịnh tín; tín là tín quyền, tín lực. Ðây là tín lực trong khi ấy .

- Thế nào là tấn lực (38) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp mà thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, siêng năng, tinh cần, nổ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủ chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn. Ðây là tấn lực trong khi ấy.

- Thế nào là niệm lực (39) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đảng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là niệm lực trong khi ấy.

- Thế nào là định lực (40) trong khi ấy?

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là định lực trong khi ấy.

- Thế nào là tuệ lực (41) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến. Ðây là tuệ lực trong khi ấy .

- Thế nào là tàm lực (42) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà hổ thẹn với điều đáng hổ thẹn, hổ thẹn với việc phạm vào các ác bất thiện pháp. Ðây là tàm lực trong khi ấy.

- Thế nào là úy lực (43) trong khi ấy?

Trong khi ấy,sự mà sợ hãi với điều đáng sợ hãi, sợ hãi với việc phạm vào các pháp ác bất thiện pháp. Ðây là úy lực trong khi ấy .

Và đây là bảy lực trong khi ấy.

- Thế nào là ba nhân (44) trong khi ấy?

Tức vô tham, vô sân và vô si.

- Thế nào là vô tham (45) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà không tham muốn, không nhiễm đắm, không tham đắm, không tham luyến, không quyến luyến, không tham ác; vô tham là căn thiện. Ðây là vô tham trong khi ấy.

- Thế nào là vô sân (46) trong khi ấy?

Trong khi ấy, sự mà không phiền giận, không hờn giận, thái độ không hờn giận, không sân độc, không sân ác; vô sân là căn thiện. Ðây là vô sân trong khi ấy.

- Thế nào là vô si (47) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là trí hiểu, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến, vô si là căn thiện. Ðây là vô si trong khi ấy.

Và đây là ba nhân trong khi ấy.

[84] - Thế nào là một xúc (48) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự đụng chạm, sự va chạm, cách đối xúc, trạng thái đối xúc. Ðây là một xúc trong khi ấy.

[85] - Thế nào là một thọ (49) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, là trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là một thọ trong khi ấy.

[86] - Thế nào là một tưởng(50) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhận ra, nhận biết, thái độ nhận biết. Ðây là một tưởng trong khi ấy.

[87] - Thế nào là một tư (51) trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự tính toán, sự cố quyết, thái độ cố quyết. Ðây là một tư trong khi ấy.

[88] - Thế nào là một tâm (52) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm trạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là một tâm trong khi ấy.

[89] - Thế nào là một thọ uẩn (53) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, là trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là một thọ uẩn trong khi ấy.

[90] - Thế nào là một tưởng uẩn(54) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự nhận ra, nhận biết, thái độ nhận biết. Ðây là một tưởng uẩn trong khi ấy.

[91] - Thế nào là hành uẩn (55) trong khi ấy?

Tức xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, nhất hành tâm, tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô si, vô tham ác, vô sân ác, chánh kiến, tàm, úy, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, tỉnh giác, chỉ tịnh, quán minh, chiếu cố, bất phóng dật; hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh ngoại trừ thọ uẩn, ngoại trừ tưởng uẩn, ngoại trừ thức uẩn. Ðây là một hành uẩn trong khi ấy.

[92] - Thế nào là một thức uẩn (56) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là một thức uẩn trong khi ấy.

[93] - Thế nào là một ý xứ (57) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là một ý xứ trong khi ấy.

[94] - Thế nào là một ý quyền (58) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ýxứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là một ý quyền trong khi ấy.

[95] - Thế nào là một ý thức giới (59) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ýxứ, ý quyền, thức, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là một ý thức giới trong khi ấy.

[96] - Thế nào là một pháp xứ (60) trong khi ấy?

Tức thọ uẩn tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là một pháp xứ trong khi ấy.

[97] - Thế nào là một pháp giới (61)trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là một pháp giới trong khi ấy.

[98] Hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.

DỨT PHẦN ÐIỀU PHÁP

PHẦN KHÔNG TÁNH (SUÑÑATĀVĀRA) (1)

[99] Lại nữa, trong khi ấy có pháp, có uẩn có xứ, có giới, có thực, có quyền có thiền, có đạo, có lực, có nhân, có xúc, có thọ, có tưởng, có tư, có tâm có thọ uẩn có tưởng uẩn, có hành uẩn, có thức uẩn có ý xứ có ý quyền, có ý thức giới, có pháp xứ, có pháp giới, hoặc là có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.

[100] - Thế nào là các pháp trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Ðây løà các pháp trong khi ấy.

[101] - Thế nào là các uẩn trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Ðây là các uẩn trong khi ấy.

[102] - Thế nào là các xứ trong khi ấy?

Tức ý xứ và pháp xứ. Ðây là các xứ trong khi ấy.

[103] - Thế nào là các giới trong khi ấy?

Tức là ý thức giới và pháp giới. Ðây là các giới trong khi ấy.

[104] - Thế nào là các thực trong khi ấy?

Tức xúc thực, ý tư thực và thức thực. Ðây là các thực trong khi ấy.

[105] - Thế nào là các quyền trong khi ấy?

Tức tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, ý quyền, hỷ quyền, và mạng quyền. Ðây là các quyền trong khi ấy.

[106] - Thế nào là thiền trong khi ấy?

Tức tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất hành tâm. Ðây là các thiền trong khi ấy?

[107] - Thế nào là đạo trong khi ấy?

Tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là đạo trong khi ấy.

[108] - Thế nào là các lực trong khi ấy?

Tức tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực. Ðây là các lực trong khi ấy.

[109] - Thế nào là các nhân trong khi ấy?

Tức vô tham, vô sân, vô si. Ðây là các nhân trong khi ấy.

[110] - Thế nào là xúc trong khi ấy?... (trùng) ...

Ðây là xúc trong khi ấy.

[111] - Thế nào là thọ trong khi ấy?...(trùng)...

Ðây là thọ trong khi ấy.

[112] - Thế nào là tưởng trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là tưởng trong khi ấy.

[113] - Thế nào là tư trong khi ấy?...(trùng)...

Ðây là tư trong khi ấy.

[114] - Thế nào là tâm trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là tâm trong khi ấy.

[115] - Thế nào là thọ uẩn trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là thọ uẩn trong khi ấy.

[116] - Thế nào là tưởng uẩn trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là tưởng uẩn trong khi ấy.

[118] - Thế nào là thức uẩn trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là thức uẩn trong khi ấy.

[119] - Thế nào là ý xứ trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là ý xứ trong khi ấy.

[120] - Thế nào là ý quyền trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là ý quyền trong khi ấy.

[121] - Thế nào là ý thức giới trong khi ấy? ...(trùng)...

Ðây là ý thức giới trong khi ấy.

[122] - Thế nào là pháp xứ trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là pháp xứ trong khi ấy.

[123] - Thế nào là pháp giới trong khi ấy?

Tức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Ðây là pháp giới trong khi ấy.

[124] - Hoặc là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện trong khi ấy.

DỨT PHẦN KHÔNG TÁNH

DỨT TÂM THỨ NHẤT

TÂM THỨ HAI (1)

[125] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khởi câu hành hỷ tương ưng trí hữu dẫn (2) bắt cảnh sắc... (trùng)... cảnh pháp hoặc cảnh chi chi; trong khi ấy có xúc ...(trùng)... có bất phóng dật ... (trùng) ... Ðây là các pháp thiện.

DỨT TÂM THỨ HAI

TÂM THỨ BA (3)

[126] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khỏi câu hành hỷ bất tương ưng trí, bắt cảnh sắc... (trùng)... cảnh pháp hoặc cảnh chi chi; trong khi ấy có xúc, có thọ, có tưởng, có tư, có tâm, có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc, có nhất hành tâm, có tín quyền, có tấn quyền, có niệm quyền, có định quyền, có ý quyền, có hỷ quyền, có mạng quyền, có chánh tư duy, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định, có tín lực, có tấn lực, có niệm lực, có định lực, có tàm lực, có úy lực, có vô tham, có vô sân, có vô tham ác, có vô sân ác, có tàm, có úy, có tịnh thân, có tịnh tâm, có khinh thân, có khinh tâm, có nhu thân, có nhu tâm, có thích thân, có thích tâm, có thuần thân, có thuần tâm, có chánh thân, có chánh tâm, có niệm, có chỉ tịnh, có chiếu cố, có bất phóng dật; hay là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.

[127] Lại nữa, trong khi ấy có bốn uẩn, có hai xứ, có hai giới, có ba thực, có bảy quyền, có năm chi thiền, có bốn chi đạo, có sáu lực, có hai nhân, có một xúc ...(trùng).. có một pháp xứ, có một pháp giới; hoặc là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

[128] - Thế nào là hành uẩn trong khi ấy?

Tức xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, nhất hành tâm, tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, hỷ quyền, mạng quyền, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, tấn lực, niệm lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân ác, tàm, úy, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, chỉ tịnh, chiếu cố, bất phóng dật hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh, ngoại trừ thọ uẩn, ngoại trừ tưởng uẩn, ngoại trừ thức uẩn. Ðây là hành uẩn trong khi ấy ...(trùng)...

Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

DỨT TÂM THỨ BA.

TÂM THỨ TƯ (4)

[129] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khởi câu hành hỷ bất tương ưng trí (5) hữu dẫn, bắt cảnh sắc ...(trùng)... cảnh pháp hay cảnh chi chi; trong khi ấy có xúc ...(trùng)... có bất phóng dật ...(trùng)... Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

DỨT TÂM THỨ TƯ

TÂM THỨ NĂM (6).

[130] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khởi câu hành xả (7) tương ưng trí, bắt cảnh sắc hay cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp hay cảnh chi chi; trong khi ấy có xúc, có thọ, có tưởng, có tư, có tâm, có tầm, có tứ, có xả, có nhất hành tâm, có tín quyền, có tấn quyền, có niệm quyền, có định quyền, có tuệ quyền, có ý quyền, có xả quyền, có mạng quyền, có chánh kiến, có chánh tư duy, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định, có tín lực, có tấn lực, có niệm lực, có định lực, có tuệ lực, có tàm lực, có úy lực, có vô tham, có vô sân, có vô si, có vô tham ác, có vô sân ác, có chánh kiến, có tàm, có úy, có tịnh thân, có tịnh tâm, có khinh thân, có khinh tâm, có nhu thân, có nhu tâm, có thích thân, có thích tâm, có thuần thân, có thuần tâm, có chánh thân, có chánh tâm, có niệm, có tỉnh giác, có chỉ tịnh, có quán minh, có chiếu cố, có bất phóng dật; hoặc là trong khi ấy, có những sắc pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.

[131] - Thế nào là xúc trong khi ấy?

Trong khi ấy, các pháp là sự đụng chạm, va chạm, cách đối xúc, trạng thái đối xúc. Ðây là xúc trong khi ấy.

- Thế nào là thọ trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự không vui không buồn thuộc về tâm, sanh từ xúc ý thức giới đó, cách cảm thọ không khổ không lạc sanh từ tâm xúc, sự cảm giác không khổ không lạc sanh từ cảm xúc. Ðây là thọ trong khi ấy ...(trùng)...

- Thế nào là xả (8) trong khi ấy?

Trong khi ấy, pháp là sự không vui không buồn thuộc về tâm, cách cảm thọ không khổ không lạc sanh từ tâm xúc, sự cảm giác không khổ không lạc từ tâm xúc. Ðây là xả trong khi ấy ...(trùng)...

- Thế nào là xả quyền trong khi ấy? (9)

Trong khi ấy, pháp là sự không vui không buồn thuộc về tâm, cách cảm thọ không khổ không lạc sanh từ tâm xúc, sự cảm giác không khổ không lạc sanh từ cảm xúc. Ðây là xả quyền trong khi ấy.

Hoặc là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện.

[132] Lại nữa, trong khi ấy có bốn uẩn, có hai xứ, có hai giới, có ba thực, có tám quyền, có bốn chi thiền, có năm chi đạo, có bảy lực, có ba nhân, có một xúc ...(trùng).. có một pháp xứ, có một pháp giới; hoặc là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

[133] - Thế nào là hành uẩn trong khi ấy?

Tức xúc, tư, tầm, tứ, nhất hành tâm, tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền, mạng quyền, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân ác, chánh kiến, tàm, úy, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, tỉnh giác, chỉ tịnh, quán minh, chiếu cố, bất phóng dật hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh, ngoại trừ thọ uẩn, ngoại trừ tưởng uẩn, ngoại trừ thức uẩn. Ðây là hành uẩn trong khi ấy...(trùng)...

Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

DỨT TÂM THỨ NĂM

TÂM THỨ SÁU (10)

[134] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khởi câu hành xả bất tương ưng trí hữu dẫn, bắt cảnh sắc ...(trùng)... cảnh pháp hay cảnh chi chi; trong khi ấy có xúc ...(trùng)... có bất phóng dật ...(trùng)... Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

DỨT TÂM THỨ SÁU

TÂM THỨ BẢY (11).

[135] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khỏi câu hành xả tương ưng trí, bắt cảnh sắc ...(trùng)... cảnh pháp hoặc cảnh chi chi; trong khi ấy có xúc, có thọ, có tưởng, có tư, có tâm, có tầm, có tứ, có xả, có nhất hành tâm, có tín quyền, có tấn quyền, có niệm quyền, có định quyền, có ý quyền, có xả quyền, có mạng quyền, có chánh tư duy, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định, có tín lực, có tấn lực, có niệm lực, có định lực, có tàm lực, có úy lực, có vô tham, có vô sân, có vô tham ác, có vô sân ác, có tàm, có úy, có tịnh thân, có tịnh tâm, có khinh thân, có khinh tâm, có nhu thân, có nhu tâm, có thích thân, có thích tâm, có thuần thân, có thuần tâm, có chánh thân, có chánh tâm, có niệm, có chỉ tịnh, có chiếu cố, có bất phóng dật; hoặc là trong khi ấy, có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

[136] - Lại nữa, trong khi ấy có bốn uẩn, có hai xứ, có hai giới, có ba thực, có bảy quyền, có bốn chi thiền, có bốn chi đạo, có sáu lực, có hai nhân, có một xúc ... (trùng) ... có một xứ, có một giới; hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh. Ðây là các pháp thiện ... (trùng)...

[137] - Thế nào là hành uẩn trong khi ấy?

Tức xúc, tư, tầm, tứ, nhất hành tâm, tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, mạng quyền, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tàm lực, úy lực, vô tham, vô sân, vô tham ác, vô sân ác, tàm, úy, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, niệm, chỉ tịnh, chiếu cố, bất phóng dật hoặc là trong khi ấy có những pháp phi sắc nào khác liên quan tương sinh, ngoại trừ thọ uẩn, ngoại trừ tưởng uẩn, ngoại trừ thức uẩn. Ðây là hành uẩn trong khi ấy...(trùng)...

DỨT TÂM THỨ BẢY

TÂM THỨ TÁM (12).

[138] - Thế nào là các pháp thiện?

Khi nào có tâm thiện dục giới sanh khởi câu hành xả bất tương ưng trí hữu dẫn, bắt cảnh sắc ... (trùng) ... cảnh pháp hoặc cảnh chi; trong khi ấy có xúc ...(trùng) ...

Có bất phóng dật ...(trùng)... Ðây là các pháp thiện ...(trùng)...

DỨT TÂM THỨ TÁM

DỨT TÁM TÂM ÐẠI THIỆN DỤC GIỚI

DỨT PHẦN THỨ HAI BẤT THIỆN TƯ


(1) Mātikā: mẩu đề, có chú giải rằng: "mātāviyā timātikā". Pháp như mẹ gọi là mẩu đề. Tức là pháp tiên đề gồm nhiều phần chi tiết, gốc như pháp gốc hay gốc mẹ.

(2) Tikamātikā - Ðầu đề tam. Phần mẩu đề, trong đó mỗi đề tài gồm ba câu pháp.

(3) Trí tuệ Tu Ðà Hườn Ðạo.

(4) Trí tuệ Tu Ðà Hàm, Trí tuệ A Na Hàm Ðạo và Trí tuệ A La Hán Ðạo.

(5) Pháp tà cho quả nhất định.

(6) Các pháp chánh chắc chắn phải cho quả.

(7) Các pháp không chắc chắn phải kết quả hay không.

(8) Dukamātikā. Mẩu đề nhị. Phần mẩu đề trong đó mỗi đề tài gồm hai câu pháp.

(9) Hetugoccchakam - tiếng Gocchaka nghĩa là dính lại, liên kết. Tụ nhân tức là phần liên kết lại nhiều đề tài, thành nhóm liên quan đến pháp nhân tương ứng.

(10) Cūḷantaradukaṃ - Nhị đề tiểu đỉnh là phần mẩu đề, gom những cập đề tài đôi nhau, ở đây những đề tài phần nầy chỉ đề cập đến những pháp tổng quát trong chân đề, nên hiểu phần này không gọi là Tụ (Gocchaka) vì các đề tài không liên kết cùng một khía cạnh.

(11) Āsavagocchakaṃ - Tụ lậu tức là phần gom các đề tài liên kết nhau nói chung vấn đề lậu hoặc.

(12) Saññojanagocchakaṃ - Tụ triền. Các đề tài liên kết nhau nói chung quanh vấn đề pháp triền.

(13) Ganthagocchakaṃ- Tụ bộc. Gồm các đề tài liên kết nhau nói chung vấn đề pháp bộc.

(14) Oghagocchakaṃ - Tụ bộc. Gồm các đề tài liên kết nhau nói chung quanh vấn đề pháp bộc.

(15) Yogagocchakaṃ - Tụ phối. Gồm các đề tài liên kết nhau nói chung quanh vấn đề pháp phối.

(16) Nīvaraṇagoccchakaṃ - Tụ cái. Gồm các đề tài liên kết nhau nói chung quanh vấn đề pháp cái.

(17) Pārāmāsagocchakaṃ- Tụ khinh thị, gồm các đề tài kiên kết nhau nói chung vấn đề pháp khinh thị (tà kiến).

(18) Mahantaradukaṃ - Nhị đề đại đỉnh là phần gồm các đề tài có đôi câu tương đối nhau, đề cập những vấn đề chi tiết trong pháp chân đế, nhưng các đề tài không liên quan nhau một khía cạnh, nên đây không gọi là tụ (gocchaka).

(19) UpādānagocchakaṃṬụ thủ. Gồm các đề tài liên kết nhau nói chung quanh vấn đề pháp thủ.

(20) Kilesagocchakaṃ. Tụ phiền não. Gồm các đề tài kết nhau nói chung quanh vấn đề pháp phiền não.

(21) Pitthidukaṃ Nhị đề yêu bối. Gồm các đề tài có đôi câu tương đối đề cập đến ý nghĩa pháp theo khía cạnh ngoài của mẫu đề tâm, nhưng toàn bộ đề tài phần này không liên kết nhau, do đó không gọi là tụ (gocchaka).

(22) Abhidhammamātikā - Mẫu đề theo Vi Diệu Pháp, tức là những đề pháp nói theo thuần chi pháp chân đế của Luận Tạng

(23) Suttantamātikā - Mẫu đề theo kinh, tức là những đề pháp giải theo khía cạnh của Tạng Kinh, nhưng cũng rút được chi pháp.

(1) Kusala. Thiện có 5 nghĩa: Không bệnh hoạn (Ārogya) - tốt đẹp suṇdara)- khôn khéo (cheka)- không lỗi lầm (anavajja) - có quả vui (Sukhavipāka).

(2) Tâm thứ nhất này, chỉ tâm đại thiện câu hành hỷ tương ưng trí vô trợ (Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ).

(3) Somanassasahagataṃ, tức là tâm có cảm giác vui hay tâm thọ hỷ.

(4) Nāmasampayuttaṃ nghĩa là tâm có trí huệ phối hợp.

(5) Arūpī- Pháp phi sắc, ở đây chỉ cho những sở hữu tâm (Cetasika) có thể hợp với tâm đại thiện này.

(6) Paṭiccasamuppāda, Pháp mà đồng sanh tương ứng, hay sanh liên quan với tâm.

(7) a Phassa (Phus; phusatī’ ti phasso)

 (8) Vedanā (vid; vedayatī ti vedanā )

(9) Saññā (sam + nā; sanjānātī di sannā).

(10) Cetanā (cit; cetayatī’ ti cetanā)

(11) Citta (cint; cintetī’ ti cittaṃ).

(12) Vitakka (vi + car; vicaranan’ ti vitakko).

(13) Vicāra (vi + car; vicaranan’ ti vicāro)

(14) Pīti (pin; pinayatīti’ pīti).

(15) Sukha (su + kham; suṭṭhu khamatī’ ti sukho).

(16) Cittass’ ckaggatā (cittássa "cka + agga + tā").

(17) Saddhindriya (saddhā + indriya).

(18) Viriyindriya (viriya + indriya).

(19) Satindriya (sati + indriya).

(20) Samādhindriya (samādhi + indriya)

(21) Paññidriya (paññā + indriya).

(22) Manidriya (mana + indriya).

(23) Somanassindriya (somanassa + indriya).

(24) Jīvitindriya (jīvita + indriya).

(25) Sammādiṭṭhi (sammā + diṭṭhi "dis").

(26) Sammāsaṅkappo (sammā + saṅkappa "sam + kapp").

(27) Sammāvāyāma (sammā + vāyāma "vi + a kapp").

(28) Sammāsati (Sammā + sati "sar").

(29) Sammāsamādhi (sammā + samādhi "saṃ + ā + dhā").

(30) Saddhābala (saddhā "saṃ + dah + bala).

(31) Viriyabala (viriya " vi + ir + bala).

(32) Satibala (sati " sar" + bala).

(33) Samādhibala (samādhi + bala).

(34) Paññābala (paññā "pa + (ña" + bala).

(35) Hiribala (hiri + bala).

(36) Ottappabala (ottappa + bala "ava + tap")

(37) Alobha (na + lobha " lubh").

(38) Adosa (na + dosa " dus").

(39) Amoha (na + moha "muh").

(40) Abyāpāda (na + byāpāda. "viā + pad").

(41) Abyāpāda (na + byāpāda. "viā + pad").

(43) Hiri.

(44) Ottappa (ava + "tap").

(45) Kāyappassaddhi (kāya + passaddhi. "pa + sammbh").

(46) Cittappassaddhi (Citta + passaddhi).

(47) Kāyalahutā (kāya + lahutā. "từ lahu")

(48) Cittalahutā (citta + lahutā. "từ lahu").

(49) Kāyamudutā (kāya + muduta. "từ mudu").

(50) Cittamudutā (citta + mudutā. "từ mudu").

(51) Kāyakammaññatā (kāya + kamm + uya + tā).

(52) Cittakammaññatā.

(53) Kāyapāguññatā (kāya + pāguññtā, "pa + gun + ya").

(54) Cittapaguññatā (citta + pāguññatā).

(55) Kāyujukatā (kāya + ujukatā. "uju".

(56) Cittujukatā (citta + ujukatā).

(57) Sati (sar).

(58) Sampajañña (saṃ +pa + ñā).

(59) Samatha (sam).

(60) Vipassanā (vi + dis).

(61) Paggāha (pa + gah).

(62) Avikkhepa (na + vikkhepa. "vi + khip").

(63) Bhānavāra. Phần gồm có 8.000 chữ (pāli).

(1) Khandha chùm, đống, khối, nhóm ... thành phần của pháp thực tướng gồm có danh pháp và sắc pháp (Suññākāraṃ dhārentī’ ti khandhā), những pháp mang thực thể rỗng không gọi là UẨN.

(2) Vedanākhandha (Vedanā + khandha) ở đây nói đến tâm thiện thứ nhất, nên thành phần thọ uẩn là thọ hỷ (Somanassasahagata).

(3) Saññākkhandha (saññā + khandha).

(4) Saṅkhārakkhandha (saṅkhāra + khandha) ở đây chỉ lấy các sở hữu tâm hành uẩn phối hợp tâm đại thiện thứ nhất.

(5) Viññāṇakkhandha(viññāna + khandha) ở đây chỉ cho tâm đại thiện thứ nhất.

(6) Āyatana: cơ quan phát khởi tâm lý (Āyasaṅkhāte cittacetasikadhamme etāni tanonti vithārentī’ ti āyatanāni); gọi là xứ, tức những pháp đó nở sanh mở rộng tâm và sở hữu tâm tiên hành.

(7) Manāyatana (mana + āyatana) Ở đây chỉ cho tâm đại thiện thứ nhất.

(8) Dhammāyatana (dhamma + āyatana). Ở đây chỉ lấy các sở hữu tâm hợp tâm đại thiện thứ nhất

(9) Dhātu bản chất, bản thể, nguyên chất . . . bản thể riêng của thực pháp (nissattanijjī- vaṭṭhena dhātu, giới có nghĩa là không phải chúng sanh, không phải linh hồn. Attano sabhāvam dhāretī’ ti dhātu. Pháp tự mang thực tính gọi là giới).

(10) Manoviññāṇadhātu. Ở đây chỉ tâm đại thiện thứ nhất.

(11) Dhammadhātu ở đây lấy các sở hữu tâm hợp với tâm đại thiện thứ nhất.

(12) Āhāra, thức ăn của danh và sắc.

(13) Phassāhāra(phassa + āhāra), Sở hữu xúc sở hữu tư (Phassacetasika).

(14) Manosañcetanāhāra (manosañcetanā + āhāra), sờ hữu tư (Cetanācetasika).

(15) Viññāṇāhāra (vinnāna + āhāra Ở đây chỉ cho tâm đại thiện thứ nhất.

(16) Indriya, khả năng riêng của pháp (indantiparama-issari-yaṃ karontī’ ti indriyāni. Pháp chủ động, hoạt động độc quyền, gọi là quyền).

(17) Saddhindriya (saddhā + indriya).

(18) Viriyindriya.

(19) Satindriya.

(20) Samādhindriya.

(21) Paññindriya.

(22) Somanassindriya.

(23) Jīvitindriya.

(24) Jhānaṅga (Jhāna + aṅga)

(25) Vitakka.

(26) Vicāra.

(27) Pīti.

(28) Sukha.

(29) Cittassekaggatā

(30) Maggaṅga (magga + aṅga)

(31) Sammāditthi.

(32) Sammāsaṅkappa.

(33) Sammāvāyāma.

(34) Sammāsati.

(35) Sammāsamādhi.

(36) Bala.

(37) Saddhābala

(38) Viriyabala.

(39) satibala.

(40) Samādhibala.

(41) Paññābala.

(42) Hiribala.

(43) Ottappabala.

(44) Hetu.

(45) Alobha.

(46) Adosa.

(47) Amoha.

(48) Eko phasso.

(49) Ekā vedanā.

(50) Ekā sañña.

(51) Ekā cetanā.

(52) Ekaṃ cittaṃ.

(53) Eko vedanākkhandho.

(54) Eko saññakkhandho.

(55) Eko Saṅkhārakkhandho.

(56) Eko viññakkhandho.

(57) Ekaṃ manāyatanaṃ.

(58) Ekaṃ manidriyaṃ

(59) Ekā manoviññāṇdhātu.

(60) Ekaṃ dhammāyatanaṃ.

(61) Ekā dhammadhātu.

(1) Suññatā (suññā + tā)

(1) Chỉ tâm thiện dục giới thứ hai, tức là tâm đại thiện câu hành tương ưng trí hữu dẫn (somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ mahākusalacittaṃ).

(2) Sasaṅkhārikaṃ, tâm sân khởi phải nhờ động lực thúc đẩy. Tâm sân khởi không cần động lực thúc đẩy, gọi là Vô Dẫn (asaṅkhārikaṃ).

(3) Là tâm đại thiện câu hành hỷ bất tương ưng trí vô dẫn (somanassahagataṃ) ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ).

(4) Là chỉ cho tâm đại thiện câu hành hỷ bất tương ưng trí hữu dẫn (somanassasahagataṃ ñāṇavippyuttaṃ sasaṅkhārikaṃ mahākusacittaṃ).

(5) Ñāṇavippayuttaṃ, tâm mà không có trí phối hợp.

(6) chỉ cho tâm đại thiện câu hành xả tương ưng trí vô dẫn (upekkhāsahagataṃ ñāṇa - sampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ mahākusalacittaṃ).

(7) Upckkhāsahagataṃ, tức là tâm có cảm giác khôngvui không buồn, thản nhiên hay là tâm thọ xả.

(8) Upekkhā (upa + (ikkh) cảm giác tâm lý không vui không buồn, không khổ không lạc. Ở đây là sở hữu thọ xaû (upekkhāvedanācetasika).

(9) Upekkhindriya (upekkhā + indriya).

(10) Là chỉ tâm đại thiện thọ xả tương ưng trí hữu dẫn (upekkhāsahagataṃ ñāṇsampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ mahākuaslācittaṃ)

(11) Là chỉ đại thiện câu hành xả bất tương ưng trí vô dẫn (upekkāsahagataṃ ñānavip - payuttaṃ asaṅkhārikaṃ mahākusalacittaṃ)

(12). Là tâm đại thiện câu hành xả bất tương ưng trí hữu dẫn (Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ mahākusalacittaṃ)