Hạnh Tạng
(Cariyà-pitaka)

[27] được gọi là Anjana".

4- Khi có người đến cầu cạnh thì Như Lai không thể nào từ chối được (ta nghĩ rằng), "để thành đạt hạnh nguyện[28], ta sẽ dâng tặng thớt tượng uy quyền này[29]".

5- Như lấy bình nước[30] bằng vàng tưới trên mình thớt tượng[31] - khẳng định hành động từ bỏ. Xong rồi Như Lai bố thí thớt tượng cho các vị Bà la môn.

6- Khi ta bố thí thớt tượng này[32], các vị quan trong triều nói như vầy: "Tại sao ngài lại bố thí con tượng vinh quang này cho những người Bà la môn đó".

7- "Thớt tượng bách chiến bách thắng, tượng trưng cho điềm lành mà ngài đã bố thí thì vương quốc của ngài sẽ ra sao?"

8- Thậm chí Như Lai sẽ bố thí toàn bộ vương quốc của mình, ngay cả bản thân của ta. Ðối với ta quả vị Toàn giác thì rất quí báu, cho nên ta đã dâng tặng thớt tượng[33].

 

I. 4 Hạnh của Bồ-tát Mahà-sudassana[34]
(mahàsudassacariyam)

1- Khi ở thành phố kusàvatì, Như Lai là thổ địa, có tên là Mahà-sudassana, một người có năng lực mạnh mẽ có thể thay đổi số mệnh của con người.

2- Ba lần trong một ngày Như Lai đã công bố ở vùng đất này rằng: "Ai ham muốn, mong cầu điều gì, ai được hưởng những tài sản gì?"

3- Ai đói, ai khát, ai ham muốn một vòng hoa, ai ham muốn dầu thơm, ai không có quần áo mặc, ai sẽ có nhiều quần áo mặc?

4- Ai sẽ che dù trên đường đi, ai mang giày, mền và dễ chịu[35]? Như vậy vào buổi chiều và lúc hoàng hôn Như Lai đã tuyên bố nơi đây về sự việc đó.

5- Không phải chỉ mười địa điểm hoặc chỉ một trăm địa điểm mà có vô số địa điểm cho những người cầu xin sẽ có được tài sản.

6- Nếu như có người ăn xin đến[36] dù ban ngày hoặc ban đêm người ấy đều nhận được của bố thí[37] và ra đi trong tay có nhiều của cải.

7- Như Lai bố thí những vật quí như vậy cho đến cuối cuộc đời. Như Lai trao tặng của bố thí không chỉ bởi vì nó không được hài lòng hoặc Như Lai không có chỗ để cất giữ[38].

8- Giống như người tàn tật để được phục hồi từ một cơn bệnh, làm thỏa mãn vị thầy thuốc[39] với một số của cải để được khỏe mạnh.

9- Như Lai đã làm như vậy, vì nhận thức ra được điều này để đạt được sự viên mãn[40] và tâm được hoan hỉ[41], bố thí cho những người đến cầu xin[42] mà không bị dính mắc, không mong mỏi được đáp lại[43], chỉ vì đạo quả giác ngộ.

 

I. 5 Hạnh của Bồ-tát Mahà-govinda[44]
(Mahàgovindacariyam)

1- Lại nữa, khi Như Lai là vị Bà la môn Maha-govinda, làm quân sư cho bảy vị vua[45], Như Lai được chư thiên và nhân loại[46] tôn kính.

2- Rồi sau đó, Như Lai nhận được nhiều tài sản to lớn từ bảy vương quốc, nhưng tâm Như Lai vững như đại dương[47].

3- Của cải và thóc lúa đã không làm hài lòng Như Lai, mà Như Lai cũng không có chỗ để chứa[48]. Quả vị giác ngộ thì đối với Như Lai rất là cao quý, do đó Như Lai bố thí tài sản quý báu[49].

 

I.6 Hạnh của nhà vua Nimi[50]
(Nimiràjacariyam)

1- Một lần nữa, khi ở thủ đô Mithi là tráng lệ Như Lai là một vị vua uy quyền có tên là Nimi, giàu kiến thức, ham muốn những việc thiện[51].

2- Như Lai đã ra lệnh cho xây bốn đại sảnh có bốn cổng ra vào[52], ở đó Như Lai bố thí cho thú vật, chim chóc, người và[53] ...

3- Quần áo, chăn giường và thức ăn thức uống cùng với những loại thực phẩm khác[54]. Như Lai bố thí những món quà cao quí, và thực hiện chúng liên tục[55].

4- Giống như người phục vụ, đi tới vị chủ nhân vì sự no ấm, tìm kiếm sự thỏa mãn bằng điệu bộ, lời nói và ý tưởng.

5- Như vậy Như Lai cũng sẽ tìm ở mọi điều để mang lại sự giác ngộ, nuôi dưỡng chúng sinh bằng của[56] bố thí, Như Lai mong cầu sự giác ngộ cao thượng.

 

I.7 Hạnh của Hoàng tử Canda[57]
(Candakumàracariyam)
[58]

1- Lại nữa, Như Lai là con trai của Ekaràja ở thành phố Puphavatì[59], là một vị hoàng tử có tên là Canda.

2- Sau đó Như Lai đã thoát khỏi cuộc tế thần, lệnh được ban ra từ bục tế thần[60] làm cho mọi người hết sức xúc động[61], Như Lai đã thực hiện một việc bố thí lớn lao.

3- Như Lai đã không ăn[62] thức ăn loại cứng hoặc loại mềm, thậm chí năm hoặc sáu đêm không được ai cho một vật xứng đáng.

4- Giống như một người mua bán lập ra một cửa hiệu lấy hàng ở đó nơi mà có lợi nhuận rất cao.

5- Tuy vậy thậm chí từ những phẩm vật mà chính người ấy đã dùng, những phẩm vật được cho người khác là những quả ngon, cho nên những gì mà được bố thí cho người khác thì sẽ trở nên gấp trăm lần.

6- Biết được chân lý này[63] Như Lai đã bố thí hết kiếp này đến kiếp khác[64]. Ðể đạt được quả giác ngộ Như Lai đã không từ bỏ sự bố thí.

 

I.8 Hạnh của vua Sivi[65]
(Siviràjacariyam)

1- Ở một thành phố có tên gọi là Aritha Như Lai là một vị vua cao quí có tên là Sivi. Rồi khi ngồi trên ngai vàng Như Lai nghĩ rằng:

2- "Bất cứ món quà nào của thế gian[66] sẽ không thành vấn đề gì đối với Như Lai. Nếu một ai đó muốn xin Như Lai một con mắt Như Lai sẽ cho mà không động lòng".

3- Biết được lòng ham muốn của nhà vua, trời Ðế Thích đang ngồi giữa đám quần thần, bèn nói lên những lời như thế này:

4- "Vua Sivi ngồi trên ngai vàng là người đầy quyền lực, đang suy nghĩ về nhiều món quà khác nhau, nhưng không biết nên cho vật nào.

5- Nào, ta hãy đến thử[67] vị này để xem sự việc có đúng thật hay không. Hãy đợi một lát cho đến khi ta biết được tâm của nhà vua".

6- Vị trời Ðế Thích xuất hiện với hình dáng một ông lão[68] già yếu bệnh tật, run rẩy trước mặt nhà vua.

7- Xong rồi đưa cả hai tay lên, và đặt hai tay lên đầu, ông ta nói những lời này:

8- "Tâu đại vương, tôi khẩn cầu ngài, một người trị vì vương quốc hùng mạnh, nổi tiếng về sự hoan hỉ bố thí cho người và trời:

9- Thậm chí hai mắt của tôi bị mù lòa. Hãy cho tôi một con mắt của ngài, ngài vẫn tiếp tục[69] giữ một con".

10- Khi Như Lai nghe những lời của người này, lấy làm hoan hỉ và hết sức xúc động trong lòng[70], Như Lai đưa hai tay với tất cả lòng nhiệt tình, Như Lai nói những lời này:

11- "Bây giờ Như Lai đã biết được sự việc đến đây, nhà ngươi biết được tâm Như Lai và đã đến xin một con mắt.

12- À, ước nguyện của ta đã thành tựu, Như Lai đã thỏa mãn sự mong cầu. Hôm nay Như Lai sẽ cho món quà cao quí này mà chưa được ai khẩn cầu trước đây".

13- Nào, Sìvaka[71] hãy đến và làm đi, đừng chậm tre[72]ã, đừng run rẩy. Hãy móc hai con mắt để cho người hành khất[73].

14- Do đó Sìvaka hãy nhanh lên, hãy vâng lời ta, hãy móc nó ra như người ta móc ruột của cây cọ[74] và bố thí chúng cho người khẩn cầu.

15- Trong khi Như Lai ao ước được cho, trong khi đang cho và sau khi cho, Như Lai không có một chút mâu thuẩn trong tâm[75], vì nó là lợi ích của sự giác ngộ.

16- Hai con mắt không có quan trọng đối với Như Lai mà nó cũng không phải của Như Lai. Quả vị toàn giác rất quí báu đối với Như Lai, do đó Như Lai đã bố thí đôi mắt.

 

I. 9 Hạnh của Bồ-tát Vessantara[76]
(Vessantaracariyam)

1- Bà ấy chính là mẹ của Như Lai, một hoàng hậu có tên là Phussatì[77] và vợ[78] của trời Ðế Thích ở kiếp trước[79].

2- Biết[80] được tuổi thọ người vợ mình sắp hết, vị vua trời nói như vầy: "Ta sẽ cho bà mười ân huệ, hãy chọn[81] ân huệ mà bà thích".

3- Và sau khi nói lên điều này bà bèn nói lại điều này với vua trời Ðế Thích "Ta đây có lỗi lầm gì với ngài? Ngài không bằng lòng ta điều gì đến nỗi ngài đã làm ta phải lìa khỏi nơi tiên cảnh này như ngọn gió (thổi xuống) dharanìruha[82]".

4- Và khi hoàng hậu nói lên điều này, vị trời Ðế Thích bèn nói lại với bà ta "Bà chẳng làm điều gì xấu xa đối với ta và ta luôn luôn yêu quí bà.

5- Ðối với việc này chỉ làm tăng thêm tuổi thọ cho bà, đã đến lúc mệnh chung. Hãy chấp nhận những đặc ân của ta, mười đặc ân mà không gì sánh bằng".

6- Hoàng hậu Phussatì được vua trời ban những đặc ân thì lấy làm hoan hỉ, đắc chí, vui thích chấp nhận mười đặc ân luôn cả bản thân của ta[83].

7- Hoàng hậu Phussatì mệnh chung ở cõi trời đó, rồi tái sinh vào một gia đình quyền quí khác ở thành phố Jetuttara[84], và kết hôn với Sanjaya.

8- Khi Như Lai nằm trong bào thai của hoàng hậu Phussatì, người mẹ yêu dấu của ta, do bởi sự trong sạch của Như Lai mẹ ta luôn luôn thỏa thích trong sự bố thí.

9- Bà bố thí cho những người thiếu thốn, người bệnh tật, người già cả, người van xin, người qua lại[85], các Sa môn và Bà la môn, cho những người bị mất mát[86] tài sản, cho những ai không có tài sản.

10- Bà Phussatì mang thai Như Lai được mười tháng, một ngày nọ trong lúc đang đi trong thành phố đã sinh ta trên tại phố vessa[87].

11- Tên của Như Lai không phải là do cha mẹ[88] đặt[89]. Bởi vì Như Lai đã sinh ở đó[90] trên khu phố của người mua bán, do đó người ta gọi Như Lai là Vessantara[91].

12- Khi Như Lai là một cậu bé tám tuổi, lúc đang ngồi ở cung điện, Như Lai bèn nghĩ đến việc bố thí.

13- Như Lai sẽ cho tim, mắt, thịt và thậm chí máu của mình, Như Lai sẽ cho mọi người biết về điều này[92] Như Lai sẽ cho thân xác của mình nếu có ai xin.

14- Trong khi Như Lai đang xem xét tâm của mình, mà nó không dao động, vững chắc, ngay lúc ấy quả địa cầu chấn động[93].

15- Cứ mỗi nửa tháng[94] và ngày trăng tròn, ngày trai giới, Như Lai cưỡi trên thớt tượng Paccaya và đi bố thí.

16- [95]Những vị Bà la môn ở một vương quốc Kalinga đến gần Như Lai, họ hỏi xin thớt tượng Naga mà được người ta xem như là điềm lành và quí báu.

17- "Ðất nước chúng tôi đã bị nạn hạn hán, thiếu thực phẩm và có nạn đói khủng khiếp. Xin ngài hãy cho chúng tôi con bạch tượng cao quí, chúa các loài voi"

18- Như Lai không dao động, Như Lai cho bất cứ cái gì những người Bà la môn yêu cầu. Như Lai không che giấu bất cứ cái gì ở đây, ở "trong tài sản của Như Lai", tâm của Như Lai hoan hỉ bố thí.

19- Khi một người van xin đến Như Lai từ chối là việc không thích hợp. Như Lai nghĩ "đừng để tâm nguyện của Như Lai không thành tựu". Như Lai sẽ bố thí con tượng uy quyền này.

20- Sau khi cầm vòi của con voi và tay khác đổ nước từ bình ra, Như Lai dâng tặng con voi cho những người Bà la môn.

21- Một lần nữa, khi Như Lai đang cho con bạch tượng cao quí quả địa cầu cũng chấn động.

22- Do việc dâng tặng con voi, người dân xứ Sivi[96] rất giận dữ, họ tụ tập nhau và đày Như Lai đi biệt xứ, "Hãy để ông ta lên núi Vanka"

23- Trong lúc họ đang xua đuổi, Như Lai không dao động, vẫn vững chắc, Như Lai xin một đặc ân[97], để dâng tặng một món quà cao quí.

24- Khi được yêu cầu tất cả những người dân của xứ Sivi đã cho Như Lai một đặc ân. Như Lai có một cặp trống[98] kêu rất to[99], xin tặng món quà cao quí.

25- Do bởi sự phi thường của dân thành này là sự ồn ào, khiếp đảm. Bởi vì món quà trước[100] đó họ đã ném cho Như Lai. Như Lai đã tặng món quà trở lại.

26- Như Lai bố thí voi, ngựa, xe ngựa kéo, nô lệ đàn ông đàn bà, trâu bò của cải. Sau khi đã cho của bố thí quí giá, Như Lai đi khỏi thành phố.

27- Khi Như Lai đi khỏi thành phố và quay trở lại nhìn (nó)[101], quả đất cũng chấn động.

28- Như Lai bố thí xe ngựa có bốn con ngựa kéo[102] đứng một mình ở giữa ngã tư không có đoàn tùy tùng, Như Lai nói với hoàng hậu Maddì:

29- "Này hậu Maddì, hãy ẵm Kanhà, nó thì nhẹ nhàng và nhỏ hơn. Ta đây sẽ ẵm Jàli vì nó thì nặng nề và là anh"

30- Maddì ẵm Kanhàjina dường như là đang cầm một đóa hoa sen xanh hoặc đóa hoa thủy tiên trắng. Ta đây ẵm hoàng tử Jàli nó như thế là bầu rượu bằng vàng.

31- Bốn con ngựa thuộc dòng quí tộc, được giáo dục tốt, đang đi trên đường lúc thì gồ ghề lúc thì bằng phẳng, họ trên đường tiễn đến núi Vanka.

32- Bất cứ ai đi[103] cùng đường hoặc từ hướng khác đến, chúng tôi hỏi họ đường đi, "núi Vaịka ở đâu?"

33- Thấy chúng tôi ở đó họ thốt lên lời thương cảm, họ tỏ vẻ buồn rầu, núi Vaịka còn xa lắm.

34- Nếu những đứa trẻ trông thấy cây có trái trong rừng[104], những đứa trẻ khóc lóc đòi trái cây.

35- Khi những cây cao[105] lớn xum xuê trông thấy những đứa trẻ kêu khóc, bèn uốn mình xuống cho vừa tầm với những đứa trẻ.

36- Trông thấy điều ngạc nhiên phi thường này, hoàng hậu Maddì lấy làm hoan hỉ và tán thán.

37- "Một điều thật sự kỳ diệu phi thường trên thế gian, chính những cây đã rũ mình xuống do bởi sự trong sạch của Bồ-tát Vessantara[106]".

38- Vì lòng thương cảm những đứa trẻ những Dạ xoa đã rút ngắn đường đi, chính vào ngày này họ đã khởi hành và đã đến vương quốc ceta.

39- Lúc ấy có sáu mươi ngàn vị vua đang sống ở Màtula[107]. Tất cả các vị này đều giở tay của họ lên trời, than khóc[108] rồi tiến về phía trước.

40- Khi họ gặp nhau trò chuyện ở đó cùng với các vị vua ở vương quốc Ceta và cùng với những người con trai của họ, từ đó họ[109] khởi hành đến núi Vanka.

41- Vị vua trời hạ lệnh cho Vissakamma, vị này có một lực thần thông, "ngươi hãy biến ngay một liêu cốc bằng là đầy đủ tiện nghi".

42- Khi Vissa kamma[110] người có năng lực thần thông đã làm theo lời của vua trời Ðế Thích, ông đã tạo ra một liêu cốc đúng như lời dạy.

43- Ði vào khu rừng thật yên tỉnh và thanh thản, ta cùng vợ con sống ở trên núi đó.

44- Ta và nàng Maddì cùng hai con là Jàli và Kanhàjina sống ở liêu cốc và rồi đã quên hết buồn phiền.

45- Tiếp tục chăm sóc các con ta chuyên cần[111] khi ở nơi liêu cốc. Nàng maddì hái trái cây mang về nuôi sống ba cha con.

46- Khi Như Lai đang ở trong rừng thì một người lữ hành xuất hiện. Ông ấy xin ta hai đứa trẻ, Jàli và Kanhàjinà.

47- trông thấy người cầu xin đến gần, ta[112] cảm thấy hoan hỉ. Nắm tay hai đứa trẻ, Như Lai cho chúng đến vị Bà la môn.

48- Khi Như Lai cho người Bà la môn những đứa con ruột thịt của mình thì quả đất chấn động.

49- Rồi lại nữa vị trời Ðế Thích bay xuống đội lốt một vị Bà la môn hỏi xin ta nàng Maddì, người vợ tiết hạnh[113] của ta.

50- Nắm lấy tay nàng Maddì, hai tay bụm đầy nước[114] vì hạnh nguyện[115] của Như Lai, ta bố thí nàng Maddì cho vị này.

51- Khi ta cho vị trời nàng Maddì, các cõi trời đều đồng loạt hoan hỉ, quả địa cầu lại chấn động.

52- Jàli (con trai của ta) Kanhajìna con gái của ta, nàng Maddì một người vợ đức hạnh của ta. Khi từ bỏ họ mà Như Lai không đắn đo[116], đó là vì đạo quả giác ngộ[117] của ta.

53- Hai con và nàng Maddì đối với Như Lai vẫn chưa hoàn thiện. Quả vị toàn giác đối với Như Lai quí báu hơn, do đó Như Lai đã bố thí những người thân yêu[118] của mình.

54- Lại nữa, khi ở cùng với bố mẹ[119] của Như Lai ở trong rừng rậm, khi ấy họ đang than khóc thương cảm và nói về hạnh phúc và buồn phiền[120] của Như Lai.

55- Như Lai đến gần họ với sự xấu hổ lẫn lo sợ bị khiển trách, cùng với sự tôn kính, quả đất cũng chấn động.

56- Lại nữa, khi Như Lai cùng với những người thân[121] đi khỏi rừng rậm, Như Lai đi vào[122] thành phố Jetuttara tráng lệ, nguy nga nhất trong những thành phố.

57- Có bảy loại mưa ngọc ngà đổ xuống, một trận mưa rào đổ xuống, trái đất cũng chấn động.

58- Thậm chí trái đất cảm thông này không biết vui hay buồn, với năng lực bố thí của Như Lai trái đất đã bảy lần rung chuyển.

 

I.10 Hạnh của con thỏ khôn ngoan
(Sasapanditaccariyam)

1- lại nữa, khi Như Lai làm một con thỏ đi đó đây trong rừng, ăn cỏ, ăn là và trái cây, tránh xa những loài thú dữ khác,

2- Như Lai cùng một con khỉ, một con chó rừng, một con rái cá con cùng sống trong một khu vực và thường gặp nhau sáng tối[123].

3- Như Lai dạy cho chúng thế nào là yêu thương, thế nào là xấu xa: "hãy tránh xa điều ác, hãy giữ những điều thiện[124]"

4- Gặp nhau vào ngày trăng tròn, ngày trai giới Như Lai chỉ nó cho chúng và nói: "hôm nay là ngày trai giới"

5- Hãy chuẩn bị những món quà để bố thí cho người xứng đáng, sau khi đã bố thí những món quà cho người xứng đáng, hãy gìn giữ bát giới.

6- Hãy nói "lời tốt đẹp" với tôi, sau khi đã chuẩn bị những món quà hợp với khả năng của chúng, hợp với phước của chúng, chúng đi tìm[125] người xứng đáng để bố thí quà.

7- Ngồi ở đó Như Lai nghĩ về[126] một món quà thích hợp và xứng đáng. Nếu Như Lai kiếm được một ai xứng đáng để bố thí, thì món quà của Như Lai sẽ là gì?

8- Như Lai không có mè, đậu[127], gạo, bơ. Như Lai vẫn tiếp tục nghĩ về cỏ, nhưng không thể bố thí cỏ được.

9- "Nếu có ai[128] xứng đáng để bố thí đến trước Như Lai để xin thực phẩm Như Lai sẽ bố thí bản thân mình; người ấy sẽ không ra đi bằng bàn tay không".

10- biết được ý định của Như Lai, vị trời Ðế Thích trong lốt của người Bà la môn đến gần hang của Như Lai để thử sự bố thí của Như Lai.

11- Khi Như Lai trông thấy ông ta, Như Lai hoan hỉ nói lên những lời hoan hỉ như thế này "thật là tốt đẹp vì cỏ khô mà ông đã đến với Như Lai[129]".

12- Ngày hôm nay Như Lai sẽ cho ông món quà cao quí mà Như Lai chưa từng cho ai trước đây. Ông là con người có nhiều giới đức, nếu không thích hợp với ông thì hãy dùng cách khác.

13- Nào hãy nhóm lên một bếp lửa, nhặt một vài cành cây khô Như Lai sẽ tự nướng mình, ông sẽ ăn được thịt Như Lai.

14- Vị trời nói "tốt lắm", với tâm hoan hỉ, vị này gom góp những cành cây khô làm thành một đống lửa thật to.

15- Vị này nhóm bếp lên thật nhanh. Như Lai lắc mình[130] cho bụi đất văng ra và ngồi xuống một bên.

16- Khi đống cây khô to lớn cháy bừng bừng[131] lên rồi, Như Lai nhảy vào giữa ngọn lửa.

17- Như bất cứ ai khi tắm nước lạnh để làm dịu bớt[132] sự buồn và cơn sốt của mình và tìm thấy[133] được sự thoải mái và thích thú.

18- Cũng như vậy khi Như Lai nhảy vào lửa thì cũng tan đi tất cả sự buồn phiền.

19- Như Lai đã bố thí cho Bà la môn cả sinh mạng của mình, da dưới, da trên, thịt, gân, xương và trái tim[134].

 

Tóm tắt[135]

1. (20) Tiền kiếp của Như Lai là Bà la môn[136] Akitti, Bà la môn Sankha, vua xứ Kuru có tên là Dhananjaya, vua Mahà - sudassana, vị Bà la môn Mahà - govinda,

2. (21) Như Lai đã từng là vị vua có tên là Nini, và hoàng tử Canda, sivi, Vessantara và thỏ. Ở những kiếp như vậy Như Lai từng bố thí những món quà cao quí.

3. (22) Ðây là những đòi hỏi[137] cơ bản cho sự bố thí, đây là những độ bố thí, Như Lai bố thí mạng sống của mình cho người cầu xin, Như Lai hoàn tất độ này.

4. (23) Khi Như Lai trông thấy người đến gần để xin vật thực, Như Lai hi sinh mạng sống của mình. Chưa có ai bố thí tương đương với Như Lai - đây là bố thí[138] độ của Như Lai.

--ooOoo--

Ðầu trang | Lời nói đầu | 01 | 02 | 03 | 04


updated: 25-03-2002


[2] Ở trong kiếp Bhadda này, bản chú giải HạnhTạng 16, 20.

[4] Hạnh Tạng nói về tiền kiếp của đức Phật dongài Xá Lợi Phất yêu cầu đức Phật thuyết lại, cũng được trình bày trong PhậtTông.

[6] Thuộc loài người, chú giải Hạnh Tạng 20.

[8] Trời Ðế Thích. Ngài cai trị ở cõi trời thứ33, ở đây được gọi là Tidiva.

[10] Ðây là một sự đại thí mặc dù nó là một mónquà hèn mọn, ở cùng trong sách này.

[12] Không rung động bởi sự tham lợi, không dínhmắc một chút nào bởi lòng tham nằm trong sách này.

[14] Túc sanh truyện Sankha số 442 được gọi làSankhabràhmanacariyam ở chú giải Hạnh Tạng 28, 35. Dịch giả BCL xác định nhưTúc sanh truyện số 524 cũng giống như sự xác nhận mà ông ta đưa ra cho HạnhTạng II. 10.

[16] Bản chú giải Hạnh Tạng bằng tiếng La tinhgọi là tattha adassim, bản chú giải Hạnh Tạng ở Colombo đọc là tatth' addasàmi,bản chú giải ở Rangoon đọc là tatth' adassam.

[18] Không bị bất cứ sự phiền não nào chi phối và... Bản chú giải Hạnh Tạng 28 đề cập đến tam độc (màra).

[20] Từ muddi (quyền lực) ít khi sử dụng. Ðốichiếu muddikam àharàpesi, bản chú giải Pháp cú. II. 4, và muddikam deti, MiTiên vấn đáp 379.

[22] Thậm chí như vậy, không có sự khác biệt đốivới sức mạnh của ngài, ngài đã cho vị Phật độc giác đôi giày và cái dù củamình. "được nuôi nấng đầy đủ"- bản chú giải Hạnh Tạng ở Colombo vàbản chú giải ở Rangoon V.1 sukhe-dhita; bản chú giải bằng tiếng La tinh đọc làsukkhethita.

[24] Như vậy ở bàn chú giải Hạnh Tạng ở Colombo,bản chú giải Hạnh Tạng. Nhưng bản chú giải Hạnh Tạng ở Rangoon đọc làIndapattha- chú giải Hạnh Tạng ở Colombo đọc là Pattha.

[26] Hatthinàga.

[28] Ðạt được quả vị Toàn giác.

[30] Nước cúng dường.

[32] Bản chú giải Hạnh Tạng 38, Hạnh Tạng xuấtbản Rangoon, bản Hạnh Tạng xuất bản Colombo gọi là tass, "bởi ông ta"Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh là tasminir.

[34] Kinh Mahasudassana, Trường bộ số 17, Túcsanh truyện Mahàsudassana số 95. Tôi theo số lời kệ ở Hạnh Tạng in ở Rangoon vàColombo bởi vì sự sắp xếp dường như tốt hơn ở Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh.

[36] Bản Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh viết làVanìpako, bản chú giải Hạnh Tạng 44, Hạnh Tạng in ở Colombo viết là Vanibbake,bản Hạnh Tạng in ở Rangoon viết là Vanibbako. Xem BHSD.

[38] Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh viết làpinatthi, Hạnh Tạng ở Rangoon, Hạnh Tạng ở Colombo viết là na pinatthi đốichiếu I 5.3. Không có trong bản dịch. Không được chứng minh nếu chúng ta chấpnhận bản chú giải Hạnh Tạng.

[40] Sự viên mãn về những chúng sinh và của riêngtôi, bản chú giải Hạnh Tạng.

[42] Ðối với cách đọc xem phần trên, câu kệ 6. N.

[44] Ðối chiếu kinh Mahà - govinda, Trường bộ II.230ff; cũng như ở Mahàvastu III. 197ff.

[46] Naradeva ở đây là các vị vua. Bản chú giảiHạnh Tạng. 45 đề cập sự việc này đối với các vị vua và tất cả những người trịvì khác, Khattiya, ở Jambudìpa.

[48] Bản Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh viết làpin' atthi, các bản Hạnh Tạng in ở Colombo viết là Napi n' atthi. Ðối chiếu. I.4. 7.

[50] Túc sanh truyện Nimi, số 541.

[52] Những ngưỡng cửa dẫn vào bốn hướng, bản chúgiải Hạnh Tạng. 53.

[54] Cũng như vậy chú giải Hạnh Tạng trang 54.

[56] Như vậy để mà viên mãn độ bố thí.

[58] Bản chú giải Hạnh Tạng 58 Cadarà Jacariyam.

[60] Bản chú giải Hạnh Tạng 61, các bản Hạnh Tạngin ở Colombo, Rangoon viết là yannavàtato, bản Hạnh Tạng bằng tiếng La tinhviết là vàtako.

[62] Khàdati, động từ cho việc ăn các thức ăncứng.

[64] Bhavàbhave, ở những kiếp khác. Bản chú giảiHạnh Tạng không giải thích ở đây.

[66] Bản chú giải Hạnh Tạng 64 "một món quảcủa con người bình thường"

[68] Bản tiếng La tinh viết là phalitasiro, cácbản in ở Colombo và Rangoon viết là palita.

[70] Mặc dù vị Bà la môn biết được ý nghĩ của ôngta, bản chú giải Hạnh Tạng 65, như được mô tả ở lời kệ tiếp theo.

[72] Bản Hạnh Tạng tiếng La tinh, bản chú giảiHạnh Tạng 68 viết là dandayi, các bản in ở Colombo và Rangoon viết là dandhayi.

[74] Tàlaminja nhưng có lẽ có ý nghĩa nhân củamột quả ở từ một cây cọ..

[76] Túc sanh truyện Vessantara, số 547, chuyệnMàlà số 9. Thu mục chi tiết ở Lamotte, Traité tập 2, trang 713. Ðề cập đếnVessantara và Túc sanh truyện ở Mi Tiên vấn đáp 113, 274 bản chú giải Luật tạng245 và chú giải Pháp cú kinh i.84, 115, iii.164, bản chú giải Bộ Phân tích.414, Mahàvamsa 30.88, Culavamsa 42.5.

[78] Các Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh và HạnhTạng in ở colombo viết làcamahesiyà, Hạnh Tạng in ở Rangoon viết là mahesi piyà.

[80] Bản Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh và bản HạnhTạng in ở Colombo viết là disvà, nhưng in ờ Rangoon viết là natvà.

[82] Xem Túc sanh truyện VI. 482, 497, Mi Tiênvấn đáp 376, 385, 410 cho cái tên của loài cây này 9.

[84] Thủ đô của vương quốc Sivi nơi Sivi và contrai ông ta là Sanjaya trị vì.

[86] Khìne, cũng được giải thích ở bản chú giảiHạnh Tạng 77.

[88] Bản Hạnh Tạng tiếng La tinh viết làmettikam, bản chú giải Hạnh Tạng 78, bản Hạnh Tạng in ở Colombo viết là mattilưu ý được đọc là metti- cũng ở trong bản Hạnh Tạng in ở Rangoon.

[90] bảnHạnh Tạng bằng tiếng La tinh, Túc sanh truyện VI. 485 Jàto'mhi, được ghi nhận ởHạnh Tạng 78 cùng với bản Hạnh Tạng in ở Rangoon và Colombo đọc là Jàt' ettha.

[92] Bản Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh viết làYàcetvà, bản chú giải Hạnh Tạng, các bản Hạnh Tạng in ở Rangoon và Colombo, Túcsanh truyện VI. 486 viết là Sàvetvà.

[94] Bản Hạnh Tạng bằng tiếng La tinh viết làaddhadhamàse, bản Hạnh Tạng in ở Rangoon và Colombo viết là anvaddha-, cũng nhưbản chú giải Hạnh Tạng. 80 được chú thích bằng anu - addhamàse. Xin xem Luậttạng IV. 145 anvaddhamàsan ti anuposathikam, mỗi ngày bát quan.

[96] tínhluôn những người con trai của vua Sivi và theo thực tế tất cả mọi người ngoiạtrừ vua Sanjaya, hoàng hậu Phusati và công chúa Maddì, bản chú giải Hạnh Tạng82.

[98] Kannabherin ti gugalamahàbherim, bản chúgiải Hạnh Tạng 85, một cặp trống lớn hoặc có lẽ là cái trống lớn.

[101] Nivattitvà vilokite, đối chiếu Trường bộ II.122. Nơi đây lần cuối cùng đức Phật "nhìn thành Vesàli cùng với hình dángcủa con voi" Nàgapalokitam V. Apaloketvà, đối chiếu Divy 208.

[103] Bản Hạnh Tạng tiếng La tinh viết là yanti,bản chú giải Hạnh Tạng 86, bản Hạnh Tạng in ở Colombo và Rangoon viết là enti.

[105] Bản tiếng La tinh viết là ubbidhà, bản in ởRangoon viết là ubbiddhà, bản in ở Colombo viết là ubbiggà.

[107] Bản tiếng La tinh viết là Màtulà, các bảnHạnh Tạng in ở Colombo và Rangoon cũng như chú giải bản Hạnh Tạng 88 viết làMàtule gọi nó là một thành phố ở vương quốc Ceta.

[109] Ðiều này đề cập đến "bốn người chúngtôi", bản chú giải Hạnh Tạng 88.

[111] Asunno; CPD đưa ra sự cần mẫn cho đoạn vănnày. Bản chú giải Hạnh Tạng 89 - 90 nói rằng "thậm chí khi nơi ẩn cư cónhiều người (asunno) thì Như Lai cũng (không lười biếng) trong việc phát triểntừ asunna thành asunne thì cũng là một cách đọc, chỗ ở của tôi thì đông ngườido sự chiếm cứ của tôi để săn sóc những đứa con, ở đó tôi đã sống. Qua sức mạnhtâm từ của Bồ-tát tất cả thú vật cách đó ba do tuần cũng hưởng được lòng từbi".

[113] Bản Hạnh Tạng tiếng La tinh viết làsìlavatini, bản chú giải Hạnh Tạng 94 - 5 (văn xuôi), các bản Hạnh Tạng in ởRangoon và Colombo viết là vantim.

[115] Bồ-tát nghĩ rằng, đạt được đỉnh cao của độbố thí ngài sẽ đi đến sự giác ngộ.

[117] Ðối chiếu I. 8. 15 câu kệ được trích dẫn ởMi Tiên vấn đáp. 117.

[119] Những người khác cũng đến, bản chú giải HạnhTạng. 100.

[121] Bản Hạnh Tạng tiếng La tinh, bản Hạnh Tạngin ở Colombo viết là sanàtibhi, bản chú giải Hạnh Tạng. 101 viết là -tìhi, bảnHạnh Tạng in ở Rangoon viết là sannatibhi. Ðối chiếu. III. 3. 4n.

[123] Bản Hạnh Tạng tiếng La tinh viết là pàtopadissare, các bản in ở Rangoon và Colombo viết là pàto ca dissare.

[125] Bản tiếng La tinh viết là gavesinisuư,, bảnin ở Colombo viết là gavesiyuư, bản chú giải Hạnh Tạng 104, bản Hạnh Tạng ởRangoon viết là gavesisuư.

[127] Các bản Hạnh Tạng tiếng La tinh và hai bảnin ở Rangoon và Colombo viết là màsà và, bản chú giải Hạnh Tạng viết là namàsà. Phần này và mugga, đậu xanh cả hai đều là những hạt đậu.

[129] Bản tiếng La tinh viết mam' antike, các bảnkhác ở Rangoon và Colombo viết là mama santike.

[131] Bản Hạnh Tạng La tinh viết là dhùmamayati,sai văn phạm, bản chú giải Hạnh Tạng, bản Hạnh Tạng in ở Rangoon viết làdhamadhamàyati, bản Hạnh Tạng ở Colombo viết là dhama dhamàyati, tạo nên tiếngồn dhamadhama. Ðối chiếu III 9.4.

[133] Deti cùng ở trong sách. Uppàdeti.

[135] Trên ký hiệu của những câu kệ tiếp theo xemlời giới thiệu trang XI.

[137] Parikkhàra hiển nhiên ý nghĩa của nó thậtcần thiết để được sinh ra như chín người đầu tiên của phẩm này đối với con thỏđể hoàn thành độ bố thí cao thượng, nghĩa là bố thí mạng sống của mình. Ðể đượchoàn tất phẩm hạnh và phẩm hạnh cao hơn của độ bố thí bằng cách bố thí tài sảnvà tứ chi của họ (kể luôn cả bố thí mắt, vợ và con) xem I. 9. 52n và II. 10.Sn.

<font new="" roman"="" size="3" color="redface=&quot;Times">[138] Túc sanh truyện i. 45, bản chú giải PhậtTông. 59, bản chú giải Apadana. 49 đề cập đến Túc sanh truyện sasapandita,trích dẫn lời kệ này để minh họa đỉnh cao của bố thí độ.