Hạnh Tạng
(Cariyà-pitaka)

[6] nơi này[7] bằng cách nào[8]?"

6- Một vị chư thiên trước đây là thân nhân của Như Lai[9], mong muốn sự hạnh phúc của Như Lai, thấy Như Lai đau đớn, bèn khuyên Như Lai về ba cách cư xử[10]

7- "trước tất cả mọi người đừng tỏ vẻ thông minh[11] hãy giả làm như một kẻ khùng điên[12], để cho mọi người khinh khi ngài - như vậy Như Lai sẽ có sự sung sướng[13]"

8- [14]Khi nghe xong những lời này Như Lai nói với bà ta: "Như Lai sẽ thực hành theo lệnh như bà[15] đã nói. Bà ước ao Như Lai được sung sướng khỏe mạnh."

9- Khi Như Lai nghe được những lời nói của bà ta Như Lai cảm thấy nó như là một điều kỳ diệu. Hân hoan, đắc chí, Như Lai nhất quyết tuân theo ba yếu tố:

10- Như Lai là người câm, điếc và què quặt không thể đi lại[16]. Như Lai quyết tâm sống theo ba yếu tố này trong mười sáu năm.

11- Sau đó họ sờ nắn tay chân, lưỡi và mắt[17] của Như Lai nhận thấy Như Lai không có một khuyết tật nào và cho ta là một người bất hạnh[18].

12- Rồi tất cả mọi người trong xứ[19], những quan lại và các tu sĩ, cùng tất cả mọi người nhất quyết loại Như Lai sang một bên.

13- Khi Như Lai nghe những quan điểm của họ, Như Lai lấy làm hân hoan, vui vẻ vì mục đích mà Như Lai tu tập khổ hạnh là mục đích mà Như Lai đã thành tựu.

14- Sau khi tắm rửa cho Như Lai, xoa dầu cho Như Lai, đeo cho Như Lai một vương miện trên đầu[20], sau khi làm lễ rải nước thánh cho Như Lai, họ đưa Như Lai đi vòng quanh thành phố có lọng che.

15- Giữ nó ở trên cao trong bảy ngày, vào một ngày khi thiên thể của mặt trời xuất hiện, người đánh xe ngựa đưa Như Lai ra khỏi chiếc xe ngựa, rồi đưa vào rừng.

16- Giữ chiếc xe ngựa lại khoảng trống, người đánh xe ngựa cho con ngựa chạy thoát[21], người đánh xe đào một cái hố và chôn Như Lai ở đó.

17- Như Lai cương quyết[22] giữ vững quyết tâm bằng những hình thức khác[23], Như Lai không từ bỏ[24] quyết định độ vì mục đích giác ngộ.

18- Ðối với Như Lai[25] cha mẹ và bản thân Như Lai cũng quan trọng. Nhưng quả vị toàn giác lại càng quí hơn, do đó Như Lai quyết tâm theo đuổi điều đó[26].

19- Như Lai sống trong mười sáu năm để quyết tâm theo đuổi những yếu tố đó. Không có ai giống như Như [27]Lai ở sự quyết tâm đó - đây là quyết định độ của Như Lai.

 

Chân thật độ
(Saccapàramità)

III.7 Hạnh của Hầu vương[28]
(Kapiràjacariyam)

1- Khi Như Lai là một con khỉ sống trong hang ở khe của một bờ sông bị một con cá[29] sấu đe dọa, Như Lai không có cơ hội để đi đến hòn đảo[30]

2- Ở nơi đó Như Lai thường đứng[31] ở bên bờ sông này và nhảy xuống bên bờ sông kia[32], ở đó có một con cá sấu, một kẻ thù[33], một kẻ giết người, một hình dáng ghê sợ[34].

3- Nó nói[35] với Như Lai: "nào". "Ta đang đến đây[36]" Như Lai nói[37] với nó. Bước lên đầu của nó Như Lai đi qua[38] được bờ bên kia.

4- Lời nói của nó không chân thật, Như Lai hành động theo lời của mình[39]. Không có ai chân thật bằng Như Lai - Ðây là chân thật độ của Như Lai.

 

III. 8 Hạnh của Bồ-tát Sacca khôn ngoan[40]
(Saccasavhayapanditacariyam)

1- Lại nữa, khi Như Lai là đạo sĩ ẩn dật có tên là Sacca[41], Như Lai bảo vệ[42] thế gian bằng sự chân thật, Như Lai làm cho mọi người đoàn kết[43].

 

III.9 Hạnh của chim cút con [44]
(Vattapotakacariyam) [45]

1- Lại nữa, khi Như Lai là con chim cút con ở Magadha, chưa mọc cánh, vừa mới sinh, như cục thịt trong tổ,

2- Mẹ Như Lai nuôi Như Lai bằng thức ăn, bà ta mang trong mỏ, Như Lai sống bằng sự mớm mồi của mẹ, Như Lai không có thân thể khỏe mạnh.

3- Hàng năm vào mùa nóng một nạn cháy rừng[46] bừng lên, khi ngọn lửa lan dần[47] đến gần chúng tôi.

4- Ðám cháy khủng khiếp[48] tạo nên những âm thanh răng rắc (dhùma dhùma)[49], một ngọn lửa phừng phừng lan dần đến gần tôi.

5- Cha mẹ ta sợ hãi ngọn lửa khủng khiếp[50], bỏ lại ta trong ổ, rồi họ thoát thân.

6- Như Lai cố gắng[51] dùng chân và cánh. Nhưng Như Lai không có đủ sức mạnh. Bởi vì Như Lai không thể đi[52] được, rồi ở đó[53] Như Lai nghĩ như thế này:

7- Ðối với những người đã sợ hãi, run sợ bỏ chạy để Như Lai ở lại một mình. Như Lai phải làm như thế nào hôm nay?

8- Ở thế gian có đặc tính giới hạnh, có sự chân thật, có sự trong sạch, có sự bao dung. [54]Bởi sự chân thật này Như Lai sẽ long trọng xác nhận sự thật cao quí.

9- Suy niệm về sức mạnh giáo pháp, nhớ lại những bậc chiến thắng trước đây, dựa vào[55] sức mạnh của sự chân thật, Như Lai long trong xác nhận sự chân thật.

10- "Có cánh mà không bay, có chân mà không đi[56]. Cha mẹ đã bỏ đi. Jàtaveda[57] lửa tàn dần "

11- Như Lai long trọng xác nhận với sự thật, đám cháy khủng khiếp[58] đã lùi trở lại 16 karìsas[59] và giống như đám cháy[60] gặp phải nước. Không có ai chân thật bằng Như Lai - Ðây là chân thật độ của Như Lai.

 

III.10 Hạnh của Ngư vương[61]
(Maccharàjacariyam)

1- Lại nữa, khi Như Lai làm vua cá trong một cái hồ lớn vào mùa nắng[62], dưới ánh mặt trời nóng bức, nước trong hồ khô cạn

2- Rồi sao đó con quạ, con diều hâu và những con cò con ó[63] ngồi gần đó ăn cá[64] ngày đêm.

3- Ở đó cùng chịu sự áp bức đến với những người thân của Như Lai, Như Lai nghĩ như vầy: "bây giờ bằng cách nào mà Như Lai có thể giúp cho thân nhân tránh khỏi sự đau khổ".

4- Sau khi xem xét thiện pháp[65], Như Lai tìm thấy được sự thật là một sự hỗ trợ. Tin tưởng vào sự thật, Như Lai hóa giải những tai họa đến với người thân của Như Lai.

5- Sau khi ghi nhớ lại pháp chân thật[66], được xem là điều tốt lành nhất, Như Lai long trong xác nhận sự thật sẽ tồn tại và bất diệt trong thế gian:

6- "Miễn là Như Lai có thể nhớ về bản thân mình, kể từ khi Như Lai có sự chín chắn Như Lai không biết gây ra sự đau đớn[67] ngay cả với ý định làm hại đến một sinh vật. Bởi lời nói chân thật này có thể làm vua trời[68] cho mưa xuống

7- Sấm sét (pajjunna)! Phá hủy kho báu vô chủ của loài cò[69], làm[70] loài cò sợ hãi và giúp cho loài cá[71] thoát khỏi sự đau đớn"

8- Và ngay sau khi long trọng xác nhận sự thật, vua trời làm cho sấm sét, và trong chốc lát mưa đổ xuống ngập vùng cao vùng thấp[72]

9- Truyền bá năng lực[73] tối cao đối với sự thật cao quí, dựa vào năng lực và sự tỏa sáng của chân lý, Như Lai đã làm cho mưa ghê gớm đổ xuống. Không có ai chân thật bằng Như Lai - Ðây là chân thật độ của Như Lai.

 

III.11 Hạnh của Bồ-tát Kanhadìpàyana[74]
(Kanhadìpàyanacariyam)

1- Lại nữa, khi Như Lai là một thầy bói có tên là Kanhadìpàyana[75], Như Lai bị người ta bạc đãi[76] hơn 50 năm

2- Không ai biết được điều này đã làm cho tâm Như Lai khó chịu bởi vì[77] Như Lai chẳng nói với ai hết; sự khó chịu này vẫn tiếp tục xảy ra trong tâm Như Lai.

3- Một người Bà-la-môn[78] bị bạc đãi, có tên là Mandabya, bạn của Như Lai, một người thầy bói nổi tiếng, do có sự liên quan với hành động trước đây[79] đã bị đóng cọc nhọn.

4- Sau khi đến thăm vị này Như Lai phục hồi sức khỏe cho bạn mình. Rồi Như Lai xin phép[80] được trở về nơi ẩn dật của mình.

5- Người bạn Bà-la-môn của Như Lai đem vợ cùng con trai nhỏ - tất cả ba người, đến ở cũng như là những người khách.

6- Trong lúc Như Lai đang chào hỏi với họ, ngồi ở trong cốc của mình, đứa trẻ ném trái banh[81] làm con rắn giận dữ[82].

7- Rồi đứa bé tìm nơi trái banh lăn, tay của nó chạm vào đầu con rắn độc.

8- Do sự đụng chạm của đứa bé con rắn giận dữ với nọc độc cực mạnh của nó, lập tức nó cắn vào tay đứa bé.

9- Khi đứa bé bị con rắn độc cắn[83], nó ngã lăn trên nền nhà, do đó Như Lai hết sức đau buồn; nỗi buồn của bố mẹ[84] đứa bé làm cho Như Lai cảm thấy[85] khó chịu.

10- Như Lai an ủi và chia xẻ nỗi đau khổ của họ, điều quan trong hơn hết là Như Lai long trọng xác nhận về sự chân thật.

11- [86]"Chỉ trong bảy ngày với một tâm thành kính, mong cầu phước thiện, chịu bạc đãi của những người Bà-la-môn. Rồi sau đó, chính điều này là sự bạc đãi của Như Lai[87] trong 50 năm và hơn nữa[88].

12- Như Lai chỉ nhận sự bạc đãi một cách miễn cưỡng. Bằng sự chân thật này có thể có được sự tốt lành[89], chất độc bị tiêu hủy và Yannadatta[90] sống lại".

13- Như Lai long trọng xác nhận sự chân thật này, đứa bé Bà-la-môn đã bị sức mạnh nọc độc làm run rẩy, tỉnh dậy, đứng lên và khỏe mạnh. Không có ai có sự chân thật bằng Như Lai - đây là chân thật độ.

 

III.12 Hạnh của Bồ-tát Sutasoma[91]
(Sutasomacariyam)

1- Một lần nữa khi Như Lai là một vị vua tên là Sutasoma, bị một người ăn thịt bắt giữ Như Lai hứa lời hứa[92] của mình với vị Bà-la-môn.

2- Sau khi xỏ xâu[93] treo một trăm vị hoàng tử trên cây, rồi để cho họ chết khô[94], ông ta đưa Như Lai làm vật hi sinh.

3- Người ăn thịt hỏi Như Lai: "Có phải là ông muốn được tự do không[95]? Ta sẽ làm theo ýthích của ông nếu ông sẽ trở lại gặp ta".

4- Sau khi hứa với người ăn thịt Như Lai sẽ trở lại vào buổi hoàng hôn, đến gần thành phố tráng lệ, rồi Như Lai tuyên bố sự với thần dân.

5- Nhận thức được giáo pháp tốt đẹp mà những người chiến thắng trước đây đã đi theo, Như Lai trao lại sự giàu sang cho vị Bà-la-môn, rồi trở lại với kẻ ăn thịt người.

6- Như Lai không bận tâm là người này sẽ giết Như Lai hay không. Ðể bảo vệ lời nói chân thật Như Lai đến để hi sinh mạng sống, không có ai chân thật bằng Như Lai. Ðây là chân thật độ[96].

 

Từ tâm độ
(Mettàpàramità)

III.13 Hạnh Bồ-tát Suvannasàma[97]
(Suvannasàmacariyam) [98]

1- Khi ở trong rừng Như Lai có tên là Sàma do lời khuyên của trời Ðế Thích[99], Như Lai rải tâm từ cho loài sư tử, cọp ở trong rừng.

2- Như Lai sống ở trong rừng, ở xung quanh có sư tử, cọp, beo[100], gấu, trâu rừng, nai và lợn rừng.

3- Không loài thú nào sợ[101] Như Lai và Như Lai cũng không làm[102] cho bất cứ loài thú[103] nào sợ; Như Lai sống nhờ năng lực của tâm từ cho nên rất thỏa thích ở trong rừng[104].

 

III.14 Hạnh của Bồ-tát Ekaràja[105]
(Ekaràjacariyam)

1- Lại nữa, khi Như Lai có tên là Ekaràja, rất nổi tiếng đang hết sức gìn giữ giới hạnh cao quí[106], Như Lai cai trị[107] một nước hùng mạnh

2- Không kể đến việc Như Lai đã tu tập thập thiện[108], Như Lai đối xử với thần dân tử tế bằng tứ vô lượng tâm[109]

3- Trong lúc Như Lai đang tinh tấn như vậy vì lợi ích của thế gian này và rồi vua xứ Kosala[110] đã xuất hiện chinh phục thành trì của Như Lai[111]

4- Thu gom toàn bộ tài sản của nhà vua, dân chúng cùng với quân đội và chôn[112] Như Lai vào trong một cái hố[113]

5- Trong khi vua xứ Kosala bắt giữ toàn bộ quần thần, vương quốc thịnh vượng, hoàng cung của Như Lai[114], thậm chí Như Lai cũng trông thấy đứa con trai yêu dấu của mình bị bắt đi. Không ai có tâm từ bằng Như Lai - đây là độ tâm từ của Như Lai.

 

Xả độ
(Upekkhàpàramità)

III.15 Phẩm hạnh cao quí phi thường[115]
(Mahalomahamsacaryam)

1- [116]Như Lai nằm trong nghĩa trang dựa vào[117] bộ xương người. Một đám trẻ con nhà quê[118] đến gần và nhạo báng Như Lai.

2- Những đứa khác mang lại cho Như Lai nhiều dầu thơm vòng hoa[119] và những loại thực phẩm, Như Lai cảm thấy hoan hỉ và phấn khởi.

3- Những đứa trẻ gây cho[120] Như Lai đau đớn và những đứa khác đem lại cho như hạnh phúc - đối với Như Lai tử tế hay giận hờn[121] đều vô nghĩa.

4- Sau khi Như Lai đã hòa đồng giữa hạnh phúc và đau khổ, danh dự và nhục nhã[122]. Như Lai vẫn an nhiên tự tại ở mọi hoàn cảnh - đây là xả độ của Như Lai.

Kết thúc là phần bình luận về xả độ[123]

 

Tóm tắt[124]

1 (6)- Yudhanjana, Somanassa, Ayoghasa và liên quan đến cành hoa sen[125], Sonananda, Mùgapakkha, hầu vương có tên là Sacca.

2 (6)- Chin cút và ngư vương, thầy bói Kanhadìpàyana, lại nữa Như Lai là Sutasoma, Như Lai là Sàma và Ekaràjà, đã có độ xả. Như vậy nó đã được vị thầy bói tài giỏi tuyên bố.

 

KỆ KẾT THÚC

1 (7)- Sau khi đã trải qua nhiều đau khổ và hạnh phúc ở những kiếp[126] khác nhau như vậy, Như Lai đã đạt được sự giác ngộ tối cao.

2 (8)- Phải bố thí những gì đã bố thí[127], đã thực hành viên mãn giới hạnh, sau khi đã hoàn thành xuất gia độ, Như Lai đã đạt được sự giác ngộ tối cao.

3 (9)- Sau khi đã viên mãn trí tuệ độ[128], sau khi đã viên mãn tinh tấn độ, sau khi đã viên mãn nhẫn nại độ, Như Lai đã thành tựu sự giác ngộ cao quí.

4 (10)- Sau khi đã thực hành quyết định độ, giữ gìn lời nói chân thật, viên mãn độ tâm từ, Như Lai đã thành tựu sự giác ngộ cao quí.

5 (11)- Ðối với thành tựu và không thành tựu, danh dự và nhục nhã[129], kính trọng[130] và chê bai - đối với Như Lai những pháp trên đều giống nhau[131], Như Lai đã thành tựu quả vị giác ngộ tối cao,

6 (12)- Sau khi nhận thức được sự dể duôi như là một tai họa và năng lực tinh tấn như là sự an lạc, là những sự thúc đẩy cho việc tinh tấn - đây là lời dạy của đức Phật[132].

7 (13)- Sau khi nhận thức được sự bất hoà[133] là một tai họa và sự hòa thuận[134] là an lạc, đoàn kết, nhân ái[135] - đây là lời dạy của chư Phật.

8 (14)- Sau khi nhận thức được sự phóng túng là tai họa và tinh tấn là an lạc, tu tập bát chánh đạo[136] - đây là lời dạy của chư Phật.

Nhà vua ở hình thức này[137] minh họa về phẩm hạnh kiếp trước của ngài nói về chủ đề pháp bảo bằng một lời văn trau chuốt được gọi là những câu chuyện dũng cảm về tiền thân của đức Phật[138].

Kết thúc phần Hạnh Tạng

--ooOoo--

Ðầu trang | Lời nói đầu | 01 | 02 | 03 | 04


updated: 25-03-2002


[2]Một người câm và tàn tật

[4]Mặc dù Pumo thường đề cập đến người nam, bản chú giải Hạnh Tạng 216 ở đây nókhông có nghĩa duy nhất một đứa con trai, và nhà vua cũng không có con gái.

[6]Bản Hạnh Tạng La tinh viết muccissam, bản chú giải Hạnh Tạng 218 munceyyam, cácbản Hạnh Tạng Colombo, Rangoon viết muncissam.

[8]Bản Hạnh Tạng La tinh viết kadàham, bản chú giải Hạnh Tạng, bản Hạnh TạngColombo, Rangoon viết là Kathàham, khi nào Như Lai sẽ?

[10]Ðể thoát khỏi sự cai trị tàn ác, bản chú giải Hạnh Tạng 219.

[12]Bản Hạnh Tạng La tinh viết bahumatam sappànimam, hai bản ở Colombo, Rangoon,Túc sanh truyện VI. 4 viết là bàlamato bhava sabba pàninam,

[14]Những câu kệ 8 - 11 được xếp đặt ở đây cũng như ở các bản Hạnh Tạng ở Colombo,Rangoon.

[16]Gativivajjito, bản chú giải Hạnh Tạng, im lặng.

[18]Kàlakanì, có tai màu đen. Ðối chiếu bản chú giải Pháp cú kinh iii. 31, 38 vềtính ngữ bao hàm một điều xấu.

[20]Vethevà ràjavethanam, cũng được giải thích ở bản chú giải Hạnh Tạng 223.

[22]Bản Hạnh Tạng La tinh tajjanto, bản chú giải Hạnh Tạng, các bản Hạnh Tạng ởColombo, Rangoon viết ento.

[24]Bản Hạnh Tạng La tinh, bản Hạnh Tạng Colombo viết là vatam, bản ở Rangoon chỉdùng tam.

[26]Mô tả sự cao cả của quyết định độ, lời kệ này được trích dẫn ở Túc sanh truyệnI. 46. Bản chú giải Phật Tông. 61. Bản chú giải Apandàna. 51, tất cả đọc na(pi) me dessam mahàyassam, sự giàu sang (hoặc những phần lớn lao tiếp theo)cũng không thỏa mãn (Như Lai) tôi đối với của Hạnh Tạng là attà na me cadessiyo.

[28]Túc sanh truyện Vànarinda số 57. Bản Hạnh Tạng La tinh, phần giới thiệu XIVgiống với số 208, BCL với số 250.

[30]Có một tảng đá ở giữa sông giữa đường đến bờ sông và một cù lao trên đó cónhiều cây trái. Một người bạn cùng ở chung với cá sấu muốn ăn trái tim của conkhỉ vì thế cho đến khi con khỉ (Bồ-tát) lừa được cá sấu, nó nằm trên tảng đá đểbắt khỉ, bằng cách ấy đã bỏ rơi được cá sấu cả nơi cung cấp chỗ ăn và sự antoàn.

[32]Rồi con khỉ sẽ nhảy từ tảng đá đến nơi nó sinh sống (cùng trong sách).

[34]Bản Hạnh Tạng La tinh viết ruddadassana, bản chú giải Hạnh Tạng, hai bản HạnhTạng ở Colombo và Rangoon viết là ludda-

[36]Giữ lời của mình, vì thế Bồ-tát nói sự thật

[38]Patitthahim, Như Lai đứng thật vững.

[40]Dường như không phù hợp với Túc sanh truyện, BCL đồng hòa với số 73.

[42]bản Hạnh Tạng La tinh, bản chúgiải Hạnh Tạng 231, bản Hạnh Tạng ở Rangoon viết là palesim, bản ở Colombo làpàlemi.

[44]Túc sanh truyện vattaka số 35, đối chiếu Túc sanh truyện Màlà số 16.

[46]Bản Hạnh Tạng La tinh, bản in ở Rangoon viết là davadàho, bản ở Colombo -dhàho.

[48]Sikhin, văn chương, có ngọn (lửa).

[50]Aggi.

[52]Agatika, người không đi được.

[54]Những lời kệ 8 đến nữa đường qua 11 cũng như ở Túc sanh truyện i. 214f.

[56]Nói đến đôi cánh và chân của Như Lai, bản chú giải Hạnh Tạng 235.

[58]Sikhin, văn chương có ngọn (lửa).

[60]Sử dụng lại từ Sikhin, ở đây bản chú giải Hạnh Tạng giải thích như là một trậnhỏa hoạn. Jàtaveda, nó bị dập tắt giống như bó đuốc bị nhúng vào nước.

[62]Unho, mà bản chú giải Hạnh Tạng nói rằng là mùa nóng.

[64]Con cá chui vào trong bùn ở dưới đáy hồ.

[66]đó là việc không làm hại kẻ khácngay cả một sinh vật nhỏ bé, bản chú giải Hạnh Tạng 238.

[68]Ðược gọi là megha (cơn bão) đám mây, bản chú giải Hạnh Tạng 238. Túc sanhtruyện I. 332 ở bản chú giải Tương ưng bộ kinh 81, ngài được gọi là thần sấm,thần mưa.

[70]Bản Hạnh Tạng La tinh, bản chú giải Hạnh Tạng, bản Hạnh Tạng ở Colombo viết làrundhehi, bản Hạnh Tạng Rangoon và Túc sanh truyện I. 332 viết ran- được lưu ýnhư là một động từ ở bản Hạnh Tạng Colombo.

[72]đối chiếu Tương ưng bộ kinh I.100 ở bản sự kinh, ở bản chú giải Hạnh Tạng, Túc sanh truyện I. 332 người tanói rằng trời mưa khắp xứ Kasala.

[74]Túc sanh truyện kanhadìpàyana số444.

[76]Anabhirati, đối chiếu BD (Book of Discipline) của I. B. Horner. 1, 114, 192.

[78]Bản Hạnh Tạng viết aratimme ratimànase. Tôi theo Hạnh Tạng in ở Colombo,Rangoon là arit me carait mànase, và những từ giải thích ở bản chú giải HạnhTạng mama mànase citte arati pavattati.

[80]Àpucchati thường dùng để xin phép để thúc đẩy ai ban một lợi lộc. Ở đâyMandabya đã xây dựng những cốc cho Dìpayana và các đạo sĩ khổ hạnh khác.

[82]Quả bóng lăn vào tổ kiến và đụng nhằm con rắn nằm phía trong, ở trên đầu.

[84]Bản chú giải Hạnh Tạng cũng vậy.

[86]Câu kệ 11, 12 ở Túc sanh truyện IV. 31.

[88]Cùng một dòng ở Trường bộ ii, 151. Ở DAT. II. 236 samàdhikàni, "và thêmnữa" được giải thích bằng ekena vassena, mà tổng cộng là 51 năm. Bản chúgiải Hạnh Tạng là im lặng.

[90]Tên của người thanh niên.

[92]Bản Hạnh Tạng La tinh viết Sankara, bản chú giải Hạnh Tạng 251, các bản HạnhTạng ở Colombo, Rangoon, Túc sanh truyện V. 481 viết Sangara.

[94]Sampamilàpetvà, bản chú giải Hạnh Tạng pamilàpetvà, héo khô, visosetvà, bị làmkhô héo, khedàpetvà, tra tấn. Hoặc có phải nó ở từ gốc mil, và không phải mlà,như được gợi ý bởi bản chú giải Hạnh Tạng và được từ điển Pàli Anh chấp nhận?Nhưng đối chiếu pamilàta ở Mi Tiên vấn đáp 303, hiển nhiên có ý nghĩa làm chokhô héo.

[96]Tôi không thấy lời kệ này ở Túc sanh truyện số 537, cũng không thấy sự khácbiệt như nó được mô tả ở Túc sanh truyện I. 46, bản chú giải Phật Tông. Bản chúgiải Apàdana 51 để minh họa sự cao cả của độ chân thật, paramatthapàramì, nhưngbản chú giải Phật Tông 60 đọc là esà me saccapàramì.

[98]Bản chú giải Hạnh Tạng 258 Sàmapanditacariyam.

[101]Bản Hạnh Tạng La tinh viết uttassati, bản chú giải Hạnh Tạng 260. Các bản HạnhTạng ở Rangoon, Colombo viết là uttassi.

[103]Bản chú giải Hạnh Tạng 260, súc sinh, ngạ quỉ, phi nhân, con người là những thợsăn.

[105]Túc sanh truyện Ekaràja số 303 ở DPPN, Túc sanh truyện i. 47. Bản chú giải PhậtTông 61,  được đưa ra như một ví dụ củamột kiếp ở đó Bồ-tát thực hành tâm từ đi đến hạnh cao quí nhất. Tuy nhiên lờikệ được trích dẫn là câu kệ cuối cùng ở trong câu chuyện Hạnh Tạng trước đó(phẩm III. 13) không phải là một câu chuyện liên quan đến độ này (hạnh này) ởmức độ cao nhất của nó. Ở bản chú giải Apàdàna 51 thì nó cao quí được mô tả vớiTúc sanh truyện Sàma.

[107]Bản chú giải Hạnh Tạng 264 giải thích pasàsàmi như là anusàsàmi. Như Lai caiquản, và rajjam kàremi, Như Lai cai trị, trị vì đặc biệt toàn vương quốc kàsi.

[109]Xem phẩm II. 9. 2.n.

[111]Bàrànasi, cũng gọi là Kàsi

[113]Kàsu được giải thích bằng àvàta ở bản chú giải Hạnh Tạng bổ sung thêm "caođến cổ" -Kàsu cùng ở phẩm II. I. 30.

[115]Sự giống nhau của sự cao quí này (cariya) với Túc sanh truyện Lomahamsa số 94mở ra một sự nghi ngờ. Xem phần giới thiệu trang VIII

[117]Bản Hạnh Tạng La tinh viết là nidhàya, hai bản Hạnh Tạng ở Rangoon và Colombo,bản chú giải Phật Tông 61, bản chú giải Apadàna 51 viết là upanidhàya; bản chúgiải Hạnh Tạng 269 tạo nên một khúc xương cái gối của Như Lai; 276, Trung bộkinh I, 79 (bằng văn xuôi). Túc sanh truyện I, 47 viết là upadhàya.

[119]bản Hạnh Tạng La tinh, bản HạnhTạng Colombo viết gandhan ca màlan ca, bản Hạnh Tạng Rangoon viết gandhamàlanca.

[121]bản Hạnh Tạng La tinh viếtdayakopo, bản chú giải Hạnh Tạng, hai bản Hạnh Tạng ở Colombo, Rangoon viếtdayàkopo.

[123]Bản Hạnh Tạng ở Colombo upekkhàpàramì niddeso nitthito, bản Hạnh Tạng Rangoonupekkhavaggo tatiyo.

[125]Bhisena, được giải thích ở bản chú giải Hạnh Tạng 271 là phẩm hạnh của Bồ-tátMahàkancana, tựa đề của nó dành cho sự cao quí này, phẩm III, 4.

[127]Dàtabbakani, lời kệ (8)-(14) cũng ở Apadàna trang 5-6 lời kệ 69-75 với một ítlời thơ M.

[129]Yasàyase, xem phẩm III. 15. 4.

[131]đọc Samako với trong sách, đốivới bản La tinh viết là samàno.

[133]Bản chú giải Hạnh Tạng 333 đề cập đến sáu vấn đề gây ra vivàda, sự tranh giành,cải cọ, xem ví dụ Luật tạng ii 89, Trung bộ iii 246, Trung bộ ii 245; Apadànaiii 334.

[135]Bản Hạnh Tạng La tinh akhilà, bản chú giải Hạnh Tạng, bản Hạnh Tạng ở Colombo,Rangoon viết là sakhilà, được giải thích ở bản chú giải Hạnh Tạng làmuduhadayà.

[137]ittham sudam, bản chú giải HạnhTạng 335 nói rằng sudam chỉ là một phân từ và ittham có nghĩa là"một trămngàn đại kiếp và 4 a tăng kỳ" xen bản chú giải Hạnh Tạng 2, lời kệ 16; đâylà những điều cần thiết để mang lại sự giác ngộ đến chín chắn.

[138]Budhàpadàniya, được trình bày như là một tựa đề khác cho Hạnh Tạng ở bản chúgiải Hạnh Tạng, được thực hiện dưới cái tên những vị Phật (khác) và khó khăn đểthực hiện, được kể lại như là việc liên quan đến Bồ-tát, adhikiccappavattattà(từ này cũng dùng ở Thanh Tịnh đạo 450) nghĩa là đối với đức Phật Gotama. Nhữngcâu chuyện được kết tập trong Hạnh Tạng mô tả phẩm hạnh tiền kiếp của Bồ-tátnhằm để thuật lại những hành động đã được thực hiện chỉ ở kiếp Bhadda này (Hiệnkiếp) (xem phẩm I. 2 và bản chú giải Hạnh Tạng 20) xem phần giới thiệu trangVif. X.