SUTTANTAPIṬAKE  KHUDDAKANIKĀYASSA
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

BUDDHAVAṂSO
PHẬT  SỬ

-ooOoo-

DUTIYO KOṆḌAÑÑABUDDHAVAṂSO

II. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT KOṆḌAÑÑA

***

[3]

Dīpaṅkarassa aparena  - koṇḍañño nāma nāyako

anantate jāmitayaso  - appameyyo durāsado. (1)[1]

Sau (đức Phật) Dīpaṅkara, vị Lãnh Đạo tên Koṇḍañña có vinh quang vô tận, danh tiếng vô cùng, không thể đo lường, khó thể đạt đến.

 

Dharaṇūpamo so khamanena  - sīlena sāgarūpamo

samādhinā merūpamo  - ñāṇena gaganūpamo. (2)

Vị ấy được ví như trái đất về sự kham nhẫn, như biển cả về giới hạnh, như núi Meru về thiền định, như bầu trời về trí tuệ.

 

Indriyabalabojjhaṅga- - maggasaccappakāsanaṃ

pakāsesi sadā buddho  - hitāya sabbapāṇinaṃ. (3)

Vì lợi ích của tất cả chúng sanh, đức Phật luôn luôn giảng giải bài giảng về Căn Quyền, về Lực, về các Chi Phần đưa đến Giác Ngộ, về Đạo Lộ, về Chân Lý.

 

Dhammacakkaṃ pavattente  - koṇḍaññe lokanāyake

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamābhisamayo ahu. (4)

Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Koṇḍañña chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi.

 

Tato paraṃpi desente  - naramarūnaṃ samāgame

navutikoṭisahassānaṃ  - dutiyābhisamayo ahu. (5)

Về sau vào lúc khác, trong khi thuyết giảng ở cuộc hội tụ của loài người và chư thiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục ngàn koṭi.

 

Titthiye abhimaddanto  - yadā dhammamadesayi

asīti koṭisahassānaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (6)

Trong khi khuất phục các ngoại đạo, lúc ấy đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp; đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục ngàn koṭi.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - koṇḍaññassa mahesino

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ  - santacittāna tādinaṃ. (7)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.

 

Koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamo āsi samāgamo

dutiyo koṭisahassānaṃ  - tatiyo navuti koṭinaṃ. (8)

Cuộc hội tụ thứ nhất gồm có một trăm ngàn koṭi vị, thứ nhì gồm có một ngàn koṭi vị, thứ ba gồm có chín mươi koṭi vị.

 

Ahaṃ tena samayena  - vijitāvī nāma khattiyo

samudda-antamantena  - issariyaṃ vattayāmihaṃ. (9)

Vào lúc bấy giờ, ta là vị sát-đế-lỵ tên Vijitāvī. Ta thể hiện quyền thống trị từ đầu này đến đầu kia của biển cả.

 

Koṭisatasahassānaṃ  - vimalānaṃ mahesinaṃ

sahalokagganāthena  - paramannena tappayiṃ. (10)

Ta đã làm hài lòng một trăm ngàn koṭi vị đại ẩn sĩ không còn ô nhiễm cùng với đấng Lãnh Đạo Tối Thắng của thế gian bằng vật thực tuyệt hảo.

 

Sopi maṃ buddho byākāsi  - koṇḍañño lokanāyako

aparimeyye ito kappe  - buddho loke bhavissati. (11)

Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Koṇḍañña, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, (người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ.

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso. (12)

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo. (13)

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ. (14)

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati. (15)

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Assattha.” Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa - gotamassa yasassino. (16)

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ. (17)

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā. (18)

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ. (19)

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna  - uttaranti mahānadiṃ. (20)

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe  - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ. (21)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā  - bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ

tameva atthaṃ sādhento  - mahārajjaṃ jine adaṃ

mahārajjaṃ daditvāna  - pabbajiṃ tassa santike. (22)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Trong khi làm hoàn mỹ cho chính mục đích ấy,[2] ta đã dâng lên đấng Chiến Thắng vương quốc rộng lớn. Sau khi bố thí vương quốc rộng lớn, ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.

 

Suttantaṃ vinayañcāpi  - navaṅga satthusāsanaṃ

sabbaṃ pariyāpuṇitvāna  - sobhayiṃ jinasāsanaṃ. (23)

Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

 

Tatthappamatto viharanto  - nisajjaṭṭhānacaṅkame

abhiññāpāramiṃ gantvā  - brahmalokamagañchihaṃ. (24)

Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy trong khi ngồi, đứng, đi kinh hành, sau khi làm toàn hảo các thắng trí, ta đã đạt đến thế giới của Phạm Thiên.

 

Nagaraṃ rammavatī nāma  - sunando nāma khattiyo

sujātā nāma janikā  - koṇḍaññassa mahesino. (25)

Thành phố có tên là Rammavatī, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Sunanda, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña tên là Sujātā.

 

Dasavassasahassāni  - agāramajjhe ca so vasi

suci suruci subho ca  - tayo pāsādamuttamā. (26)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Suci, Suruci, và Subha.

 

Tīṇi satasahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

rucidevī nāma sā nārī  - jīvitaseno nāma atrajo. (27)

Có ba trăm ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Rucidevī. Con trai tên là Jīvitasena.

 

Nimitte caturo disvā  - rathayānena nikkhami

anūnadasamāsāni  - padhānaṃ padahī jino. (28)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện cỗ xe và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.

 

Brahmunā yācito santo  - koṇḍañño dipaduttamo

vattacakko mahāvīro  - devānañca mahāvane. (29)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Tối Thượng Nhân, đấng Đại Hùng Koṇḍañña có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở khu rừng lớn của chư thiên.

 

Bhaddo ceva subhaddo ca  - ahesuṃ aggasāvakā

anuruddho nāmupaṭṭhāko  - koṇḍaññassa mahesino. (30)

Bhadda và luôn cả Subhadda đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña tên là Anuruddha.

 

Tissā ca upatissā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

sālakalyāṇiko bodhi  - koṇḍaññassa mahesino. (31)

Tissā và luôn cả Upatissā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của vị Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña là cây Sāla tốt lành (Sālakalyāṇika).

 

Soṇo ca upasoṇo ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

nandā ceva sirīmā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (32)

Soṇa và Upasoṇa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Nandā và luôn cả Sirimā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

So aṭṭhāsīti hatthāni  - accuggato mahāmuni

sobhate uḷurājāva  - suriyo majjhanhike yathā. (33)

Cao tám mươi tám cánh tay (40 mét), bậc Đại Hiền Triết ấy sáng ngời tợ như mặt trăng,[3] giống như mặt trời lúc chính ngọ.

 

Vassasatasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (34)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Khīṇāsavehi vimalehi  - vicittā āsi medanī

yathā gaganaṃ uḷubhi  - evaṃ so upasobhatha. (35)

Trái đất được điểm tô với những bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm giống như là bầu trời được tô điểm bởi các vì tinh tú, khi ấy vị ấy đã rạng rỡ như thế.

 

Tepi nāgā appameyyā  - asaṅkhobbhā durāsadā

vijjupātaṃva dassetvā  - nibbutā te mahāyasā. (36)

Các bậc long tượng ấy là vô lượng, không bị dao động, khó thể đạt đến. Sau khi thị hiện giống như là tia chớp, các vị có danh tiếng vĩ đại ấy đã Niết bàn.

 

Sā ca atuliyā jinassa iddhi  - ñāṇaparibhāvito ca samādhi

sabbaṃ samantarahitaṃ  - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (37)

Thần thông ấy và (thiền) định được phát triển toàn diện bằng trí tuệ của đấng Chiến Thắng là vô song, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

 

Koṇḍañño siridharo buddho - nandārāmamhi nibbuto

tattheva cetiyo tassa - sattayojanamussitoti. (38)

Đức Phật Koṇḍañña, bậc có niềm vinh quang, đã Niết Bàn tại tu viện Nandā. Ngôi bảo tháp dành cho vị ấy đã được dựng lên cao bảy do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

 

Koṇḍaññabuddhavaṃso dutiyo.

Lịch sử đức Phật Koṇḍañña là phần thứ nhì.

--ooOoo--

 

TATIYO MAṄGALABUDDHAVAṂSO

III. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT MAṄGALA

***

 

[4]

Koṇḍaññassa aparena  - maṅgalo nāma nāyako

tamaṃ loke nihantvāna  - dhammokkamabhidhārayi. (1)

Sau (đức Phật) Koṇḍañña, vị Lãnh Đạo tên là Maṅgala đã hủy diệt bóng tối ở thế gian và nâng cao ngọn đuốc Chánh Pháp.

 

Atulāsi pabhā tassa  - jinehaññehi uttari

candasuriyapabhaṃ hantvā  - dasasahassī virocati. (2)

Hào quang của vị ấy là vô song, vượt trội các đấng Chiến Thắng khác, tiêu diệt ánh sáng mặt trăng mặt trời, và rọi sáng mười ngàn thế giới.

 

Sopi buddho pakāsesi  - caturo saccavaruttame

te te saccarasaṃ pitvā  - vinodenti mahātamaṃ. (3)

Đức Phật ấy cũng đã giảng giải về bốn Chân Lý cao quý tối thượng. Những ai đã uống chất tinh túy của Chân Lý, những vị ấy xua tan bóng tối mịt mùng.

 

Patvāna bodhimatulaṃ  - paṭhame dhammadesane

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamābhisamayo ahu. (4)

Sau khi đạt đến quả vị Giác Ngộ vô song, trong buổi thuyết giảng Giáo Pháp lần đầu tiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất của một trăm ngàn koṭi.

 

Surindadevabhavane  - buddho dhammamadesayi

tadā koṭisatasahassānaṃ  - dutiyābhisamayo ahu. (5)

Đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp ở cung điện của vị Chúa Trời. Khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ nhì của một trăm ngàn koṭi.

 

Yadā sunando cakkavatti  - sambuddhamupasaṅkami

tadā āhani sambuddho  - dhammabheriṃ varuttamaṃ. (6)

Khi đức chuyển luân vương Sunanda đi đến gặp đấng Toàn Giác, khi ấy đấng Toàn Giác đã gióng tiếng trống cao quý tối thượng của Giáo Pháp.

 

Sunandassānucarā ca - tadāsuṃ navutikoṭiyo

sabbe te niravasesā  - ahesuṃ ehi bhikkhukā. (7)

Và khi ấy, những người tùy tùng của (đức vua) Sunanda gồm có chín mươi koṭi. Tất cả những người ấy không thiếu sót ai đã trở thành tỳ khưu theo hình thức gọi đến.[4]

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - maṅgalassa mahesino

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamo āsi samāgamo. (8)

Vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất gồm có một trăm ngàn koṭi vị.

 

Koṭisatasahassānaṃ  - dutiyo āsi samāgamo

tatiye navutikoṭīnaṃ - tatiyo āsi samāgamo.

Cuộc hội tụ thứ nhì gồm có một trăm ngàn koṭi vị. Cuộc hội tụ thứ ba gồm có chín mươi koṭi vị.

 

Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ  - tadā āsi samāgamo (9)

Ahaṃ tena samayena  - suruci nāma brāhmaṇo.

Khi ấy, đã có cuộc hội tụ của các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm. Vào lúc bấy giờ, ta là vị bà-la-môn tên Suruci.

 

Ajjhāyiko mantadharo  - tiṇṇaṃ vedāna pāragū (10)

tamahaṃ upasaṅkamiṃ  - saraṇaṃ gantvāna satthuno.

Là vị trì tụng, nắm vững chú thuật, thành thạo ba bộ Vệ Đà, ta đã đi đến gặp và đã quy y bậc Đạo Sư ấy.

 

Sambuddhappamukhaṃ saṅghaṃ  - gandhamālena pūjayiṃ

pūjetvā gandhamālena  - gavapānena tappayiṃ. (11)

Ta đã cúng dường hương thơm và tràng hoa đến hội chúng có bậc Toàn Giác đứng đầu. Sau khi cúng dường hương thơm và tràng hoa, ta đã làm hài lòng (các vị) với món gavapāna.[5]

 

Sopi maṃ buddho byākāsi  - maṅgalo dipaduttamo

aparimeyye ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (12)

Vị Phật ấy, đấng Tối Thượng Nhân Maṅgala, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ.

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso. (13)

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ.

Anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ.

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ

uttariṃ vattamadhiṭṭhāsiṃ  - dasapāramipūriyā. (14)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Tadā pītiṃ nubrūhanto  - sambodhivarapattiyā

buddhe datvāna maṃ gehaṃ  - pabbajiṃ tassa santike. (15)

Khi ấy, trong lúc đang tăng trưởng niềm hoan hỷ đối với việc đạt đến quả vị Toàn Giác cao quý, ta đã cúng dường ngôi nhà của ta đến đức Phật và đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.

 

Suttantaṃ vinayañcāpi  - navaṅgasatthusāsanaṃ

sabbaṃ pariyāpuṇitvāna  - sobhayiṃ jinasāsanaṃ. (16)

Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

 

Tatthappamatto viharanto  - brahmaṃ bhāvetvā bhāvanaṃ

abhiññāsu pāramiṃ gantvā  - brahmalokamagañchihaṃ. (17)

Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy, sau khi tu tập pháp hành của Phạm Thiên và làm toàn hảo các thắng trí, ta đã đạt đến thế giới của Phạm Thiên.

 

Nagaraṃ uttaraṃ nāma  - uttaro nāma khattiyo

uttarā nāma janikā  - maṅgalassa mahesino. (18)

Thành phố có tên là Uttara, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Uttara, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala tên là Uttarā.

 

Nava vassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

yasavā sucimā sirīmā  - tayo pāsādamuttamā. (19)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình trong chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Yasavā, Sucimā, và Sirimā.

 

Samatiṃsasahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

yasavatī nāma nārī  - sīvalo nāma atrajo. (20)

Có đầy đủ ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Yasavatī. Con trai tên là Sīvala.

 

Nimitte caturo disvā  - assayānena nikkhami

anūna-aṭṭhamāsāni  - padhānaṃ padahī jino. (21)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện ngựa và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.

 

Brahmunā yācito santo  - maṅgalo lokanāyako

vattacakko mahāvīro  - caresi dipaduttamo. (22)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Maṅgala, có bánh xe (Chánh Pháp) được chuyển vận, đã tiến bước.

 

Sudevo dhammaseno ca  - ahesuṃ aggasāvakā

pālito nāmupaṭṭhāko  - maṅgalassa mahesino. (23)

Sudeva và Dhammasena đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Maṅgala tên là Pālita.

 

Sīvalā ca asokā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

bodhi tassa bhagavato  - nāgarukkhoti vuccati. (24)

Sīvalā và Asokā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Cây Nāga.”

 

Nando ceva visākho ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

anuḷā ceva sumanā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (25)

Nanda và luôn cả Visākha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Anuḷā và luôn cả Sumanā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Aṭṭhāsītiratanāni  - accuggato mahāmuni

tato niddhāvatī raṃsi  - anekasatasahassiyo. (26)

Bậc Đại Hiền Triết cao tám mươi tám ratana.[6] Từ thân vị ấy phát ra hàng trăm ngàn ánh hào quang.

 

Navuti vassasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (27)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Yathāpi sāgare ummi  - na sakkā te gaṇetuye

tatheva sāvakā tassa  - na sakkā te gaṇetuye. (28)

Cũng giống như sóng ở biển không thể nào tính đếm chúng được. Tương tợ y như thế, các Thinh Văn của vị ấy không thể nào tính đếm các vị ấy được.

 

Yāva aṭṭhāsi sambuddho  - maṅgalo lokanāyako

na tassa sāsane atthi  - sakilesamaraṇaṃ tadā. (29)

Trong khi bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian Maṅgala còn hiện tiền, vào khi ấy không có cái chết vẫn còn phiền não ở trong Giáo Pháp của vị ấy.

 

Dhammokkaṃ dhārayitvāna  - santāretvā mahājanaṃ

jalitvā dhumaketūva  - nibbuto so mahāyaso. (30)

Sau khi đã nâng đỡ ngọn đuốc Chánh Pháp, sau khi đã giúp cho đại chúng vượt qua, sau khi rực cháy như là cây cột khói, vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.

 

Saṅkhārānaṃ sabhāvattaṃ  - dassayitvā sadevake

jalitvā aggikkhandhova  - suriyo atthaṅgato yathā. (31)

Sau khi đã chỉ cho thế gian luôn cả chư thiên thấy được bản chất cơ bản của các hành, (vị ấy) đã phát cháy như là khối lửa, tương tợ như mặt trời đã lặn.

 

Uyyāne vassare nāma  - buddho nibbāyi maṅgalo

tattheva tassa jinathūpo  - tiṃsayojanamuggatoti. (32)

Đức Phật Maṅgala đã Niết Bàn tại công viên tên là Vassara. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên cao ba mươi do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

 

Maṅgalabuddhavaṃso tatiyo.

Lịch sử đức Phật Maṅgala là phần thứ ba.

--ooOoo--

 

CATUTTHO SUMANABUDDHAVAṂSO

IV. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT SUMANA

***

[5]

Maṅgalassa aparena  - sumano nāma nāyako

sabbadhammehi asamo  - sabbasattānamuttamo. (1)

Sau (đức Phật) Maṅgala, vị Lãnh Đạo tên Sumana là bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh, không ai sánh bằng về tất cả các pháp (giới, định, tuệ).

 

Tadā amatabheriyo  - āhani mekhale pure

dhammasaṅkhasamāyuttaṃ  - navaṅgajinasāsanaṃ. (2)

Khi ấy ở thành phố Mekhala, Ngài đã gióng lên những tiếng trống bất tử được liên kết với những hồi tù và Giáo Pháp là lời giáo huấn của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại.

 

Vijinitvā kilese so  - patto sambodhimuttamaṃ

māpesi nagaraṃ satthā  - saddhammapuravaruttamaṃ. (3)

Sau khi chiến thắng các phiền não, đấng Đạo Sư ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng và đã tạo lập thành phố là thành phố Chánh Pháp cao quý tối thượng.

 

Nirantaraṃ akuṭilaṃ  - ujuṃ vipulavitthataṃ

māpesi so mahāvīthiṃ  - satipaṭṭhānavaruttamaṃ. (4)

Vị ấy đã tạo ra con đường lớn không bị cách khoảng, không khúc khuỷu, thẳng tắp, dài và rộng, (ấy là) Tứ Niệm Xứ cao quý tối thượng.

 

Phale cattāri sāmaññe  - catasso paṭisambhidā

chaḷabhiññāṭṭhasamāpattī  - pasāresi tattha vīthiyaṃ. (5)

Nơi đó, ở tại con đường Ngài đã trưng bày bốn quả vị sa-môn, bốn tuệ phân tích, sáu thắng trí, và tám thiền chứng.

 

Ye appamattā akhilā  - hiriviriyehupāgatā

te te ime guṇavare  - ādiyanti yathā sukhaṃ. (6)

Những ai không bị xao lãng, (tâm) không bị ngăn trở, có được sự hổ thẹn tội lỗi và sự tinh tấn, chính những người ấy đạt được các đức hạnh cao quý này một cách dễ dàng.

 

Evametena yogena  - uddharanto mahājanaṃ

bodhesi paṭhamaṃ satthā  - koṭisatasahassiyo. (7)

Như thế bằng phương thức ấy, trong lúc nâng đỡ đại chúng bậc Đạo Sư đã giác ngộ trước tiên một trăm ngàn koṭi vị.

 

Yamhi kāle mahāvīro  - ovadi titthiye gaṇe

koṭisatasahassāni  - dutiye dhammadesane. (8)

Trong dịp thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhì là lúc đấng Đại Hùng giáo huấn các đồ chúng ngoại đạo, đã có một trăm ngàn koṭi (người lãnh hội).

 

Yadā devā manussā ca  - samaggā ekamānasā

nirodhapañhaṃ pucchiṃsu  - saṃsayañcāpi mānasaṃ. (9)

Vào lúc chư thiên và nhân loại có sự đồng lòng nhất trí đã vấn câu hỏi về sự Tịch Diệt và luôn cả sự nghi ngờ ở trong tâm nữa.

 

Tadāpi dhammadesane  - nirodhaparidīpane

navutikoṭisahassānaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (10)

Khi ấy, cũng vào dịp thuyết giảng Giáo Pháp giải thích rõ ràng về sự Tịch Diệt, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của chín mươi ngàn koṭi vị.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - sumanassa mahesino

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ  - santacittāna tādinaṃ. (11)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Sumana đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.

 

Vassaṃ vuṭṭhassa bhagavato  - abhisaṅghuṭṭhe pavāraṇe

koṭisatasahassehi  - pavāresi tathāgato. (12)

Khi đức Thế Tôn đã trải qua mùa (an cư) mưa, vào ngày lễ Pavāraṇā đã được công bố, Như Lai đã hành lễ Pavāraṇā cùng với một trăm ngàn koṭi vị.

 

Tato paraṃ sannipāte  - vimale kañcanapabbate

navutikoṭisahassānaṃ  - dutiyo āsi samāgamo. (13)

Sau đó vào lúc khác, khi các vị không còn ô nhiễm đã tụ hội ở ngọn núi Kañcana, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi ngàn koṭi vị.

 

Yadā sakko devarājā  - buddhadassanupāgami

asītikoṭisahassānaṃ  - tatiyo āsi samāgamo. (14)

Khi Chúa Trời Sakka đi đến chiêm ngưỡng đức Phật, đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi ngàn koṭi vị.

 

Ahaṃ tena samayena  - nāgarājā mahiddhiko

atulo nāma nāmena  - uppannakusalasañcayo. (15)

Vào lúc bấy giờ, ta là vị Long Vương tên là Atula, có đại thần lực, có sự tích lũy các thiện pháp đã được thành tựu.

 

Tadāhaṃ nāgabhavanā  - nikkhamitvā sañātibhi

nāgānaṃ dibbaturiyehi  - sasaṅghaṃ jinamupaṭṭhahiṃ. (16)

Khi ấy, sau khi rời khỏi long cung ta đã cùng thân quyến phục vụ đấng Chiến Thắng cùng với hội chúng bằng các nhạc cụ thiên đình của loài rồng.

 

Koṭisatasahassāni  - annapānena tappayiṃ

paccekadussayugaṃ datvā  - saraṇaṃ tamupāgamiṃ. (17)

Ta đã làm hài lòng một trăm ngàn koṭi vị với thức ăn và nước uống. Sau khi đã dâng mỗi một vị hai xấp vải, ta đã quy y vị ấy.

 

Sopi maṃ buddho byākāsi  - sumano lokanāyako

aparimeyye ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (18)

Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumana, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ.

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (19)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ

uttariṃ vattamadhiṭṭhāsiṃ  - dasapāramipūriyā. (21)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Mekhalaṃ nāma nagaraṃ  - sudatto nāma khattiyo

sirimā nāma janikā  - sumanassa mahesino. (21)

Thành phố có tên là Mekhala, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Sudatta, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Sirimā.

 

Navavassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

cando sucando vaṭaṃso  - tayo pāsādamuttamā. (22)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Canda, Sucanda, và Vaṭaṃsa.

 

Tesaṭṭhisatasahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

vaṭaṃsakī nāma nārī  - anupamo nāma atrajo. (23)

Có sáu mươi ba trăm ngàn (sáu triệu ba trăm ngàn) phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vataṃsakī. Con trai tên là Anupama.

 

Nimitte caturo disvā  - hatthiyānena nikkhami

anūnadasamāsāni  - padhānaṃ padahī jino. (24)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện voi và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.

 

Brahmunā yācito santo  - sumano lokanāyako

vattacakko mahāvīro  - mekhale puravaruttame. (25)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sumana có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở thành phố Mekhala cao quý tối thượng.

 

Saraṇo bhāvitatto ca  - ahesuṃ aggasāvakā

udeno nāmupaṭṭhāko  - sumanassa mahesino. (26)

Saraṇa và Bhāvitatta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Udena.

 

Soṇā ca upasoṇā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

sopi buddho asamasamo  - nāgamūle abujjhatha. (27)

Soṇā và Upasoṇā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Đức Phật ấy, là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, đã giác ngộ cũng ở cội cây Nāga.

 

Varuṇo ceva saraṇo ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

cālā ca upacālā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (28)

Varuṇa và luôn cả Saraṇa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Cālā và Upacālā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Uccattanena so buddho  - navutihatthamuggato

kañcanagghikasaṅkāso  - dasasahassī virocati. (29)

Đạt đến chín mươi cánh tay (45 mét) về chiều cao, đức Phật ấy tỏa sáng mười ngàn thế giới tợ như kim loại vàng quý giá.

 

Navutivassasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (30)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Tāraṇīye tārayitvā  - bodhaneyye abodhayi

parinibbāyi sambuddho  - uḷurājāva atthami. (31)

Sau khi đã giúp cho vượt qua những người xứng đáng được vượt qua và đã giác ngộ những người xứng đáng được giác ngộ, đấng Toàn Giác đã Vô Dư Niết Bàn ví như mặt trăng (vua của các vì sao) đã lặn.

 

Te ca khīṇāsavā bhikkhū  - so ca buddho asādiso

atulaṃ pabhaṃ dassayitvā  - nibbutā te mahāyasā. (32)

Đức Phật ấy là không gì sánh được và các vị tỳ khưu ấy là các bậc Lậu Tận. Sau khi thị hiện ánh sáng vô song, các vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.

 

Tañca ñāṇamatuliyaṃ  - tāni ca atuliyāni ratanāni

sabbaṃ samantarahitaṃ  - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (33)

Trí tuệ vô song ấy và các châu báu không gì so sánh ấy, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

 

Sumano yasadharo buddho  - aṅgārāmamhi nibbuto

tattheva tassa jinathūpo  - catuyojanamuggato. (34)

Đức Phật Sumana, bậc có danh tiếng, đã Niết Bàn tại tu viện Aṅgāra. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên cao bốn do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

 

Sumanabuddhavaṃso catuttho.

Lịch sử đức Phật Sumana là phần thứ tư.

--ooOoo--

 

PAÑCAMO REVATABUDDHAVAṂSO

V. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT REVATA

***

 

[6]

Sumanassa aparena  - revato nāma nāyako

anupamo asadiso  - atulo uttamo jino. (1)

Sau (đức Phật) Sumana, có vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Revata là vô song, tối thượng, không có tương đương, không gì sánh được.

 

Sopi dhammaṃ pakāsesi  - brahmunā abhiyācito

khandhadhātuvavatthānaṃ  - appavattaṃ bhavābhave. (2)

Được thỉnh cầu bởi đấng Phạm Thiên, vị ấy cũng đã giảng giải Giáo Pháp, định nghĩa về (năm) Uẩn (mười tám) Giới chưa từng được chuyển vận ở tam giới.

 

Tassābhisamayā tīṇi  - ahesuṃ dhammadesane

gaṇanāya na vattabbo  - paṭhamābhisamayo ahu. (3)

Trong sự thuyết giảng Giáo Pháp của vị ấy, đã có ba lần lãnh hội. Sự lãnh hội lần thứ nhất là không thể nói được bằng cách tính đếm.

 

Yadā arindamaṃ rājaṃ  - vinesi revato muni

tadā koṭisahassānaṃ  - dutiyābhisamayo ahu. (4)

Vào lúc bậc Hiền Triết Revata chỉ dạy đức vua Arindama, khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của một ngàn koṭi vị.

 

Sattāhaṃ paṭisallānā  - vuṭṭhahitvā narāsabho

koṭisataṃ naramarūnaṃ  - vinesi uttame phale. (5)

Sau khi xuất ra khỏi thiền tịnh bảy ngày, đấng Nhân Ngưu đã chỉ dạy về các quả vị tối thượng cho một trăm koṭi chư thiên và nhân loại.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - revatassa mahesino

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ  - suvimuttāna tādinaṃ. (6)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Revata đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, đã khéo giải thoát như thế ấy.

 

Atikkantagaṇanapathā  - paṭhamā ye samāgatā

koṭisatasahassānaṃ  - dutiyo āsi samāgamo. (7)

Các vị đi đến vào lần đầu tiên là vượt quá phương thức tính đếm. Cuộc hội tụ thứ nhì gồm có một trăm ngàn koṭi vị.

 

Yo so paññāya asamo  - tassa cakkānuvattako

so tadā byādhiko āsi  - patto jīvitasaṃsayaṃ. (8)

Người phụ trợ trong việc chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) của đức Phật là không ai sánh bằng về trí tuệ. Khi ấy, vị ấy bị bệnh và đã đạt đến tình trạng bấp bênh về mạng sống.

 

Tassa gilānapucchāya  - ye tadā upagatā muniṃ

koṭisatasahassānaṃ  - tatiyo āsi samāgamo. (9)

Khi ấy, những người đã đến với vị hiền triết để thăm hỏi bệnh tình của vị ấy; đã có cuộc hội tụ thứ ba của một trăm ngàn koṭi vị.

 

Ahaṃ tena samayena  - atidevo nāma brāhmaṇo

upagantvā revataṃ buddhaṃ  - saraṇaṃ tassa gañchahaṃ. (10)

Vào lúc bấy giờ, ta là vị bà-la-môn tên Atideva. Ta đã đi đến gặp đức Phật Revata. Ta đã quy y vị ấy.

 

Tassa sīlaṃ samādhiñca  - paññāguṇamanuttaraṃ

thomayitvā yathāthāmaṃ  - uttariyaṃ adāsahaṃ. (11)

Sau khi ca tụng giới, định, và đức hạnh tối thắng về tuệ của vị ấy, ta đã dâng lên thượng y phù hợp với khả năng.

 

Sopi maṃ buddho byākāsi  - revato lokanāyako

aparimeyye ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (12)

Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Revata, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ.

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ.

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ

uttariṃ vattamadhiṭṭhāsiṃ  - dasapāramipūriyā. (14)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Tadāpi taṃ buddhadhammaṃ  - saritvā anubrūhayiṃ

āharissāmi taṃ dhammaṃ  - yaṃ mayhaṃ abhipatthitaṃ. (15)

Cũng vào khi ấy, ta đã nhớ lại và làm cho tăng trưởng pháp của chư Phật (nghĩ rằng): “Điều gì ta đã phát nguyện thì ta sẽ đem lại điều ấy.[7]

 

Nagaraṃ sudhaññakaṃ nāma  - vipulo nāma khattiyo.

vipulā nāma janikā  - revatassa mahesino. (16)

Thành phố có tên là Sudhaññaka, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Vipula, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Revata tên là Vipulā.

 

Chabbassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

sudassano ca ratanagghi  - āveḷo ca vibhūsito

puññakammābhinibbattā  - tayo pāsādamuttamā. (17)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình trong sáu ngàn năm. Ba tòa lâu đài tuyệt vời đã được trang hoàng Sudassana, Ratanagghi, và Āveḷa là đã được phát sanh lên do thiện nghiệp.

 

Tettiṃsasatasahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

sudassanā nāma nārī  - varuṇo nāma atrajo. (18)

Có ba mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân (người vợ) tên là Sudassanā. Con trai tên là Varuṇa.

 

Nimitte caturo disvā  - rathayānena nikkhami

anūnasattamāsāni  - padhānaṃ padahī jino. (19)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe và đã ra sức nỗ lực bảy tháng không thiếu sót.

 

Brahmunā yācito santo  - revato lokanāyako

vattacakko mahāvīro  - varuṇārāme vasī jino. (20)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Chiến Thắng, bậc Đại Hùng Revata có oai lực, có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở tại khu vườn Varuṇa.

 

Varuṇo brahmadevo ca  - ahesuṃ aggasāvakā

sambhavo nāmupaṭṭhāko  - revatassa mahesino. (21)

Varuṇa và Brahmadeva đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Maṅgala tên là Sambhava.

 

Bhaddā ceva subhaddā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

sopi buddho asamasamo  - nāgamūle abujjhatha. (22)

Bhaddā và luôn cả Subhaddā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Khi ấy, đức Phật ấy, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, cũng đã giác ngộ ở cội cây Nāga.

 

Varuṇo ca sarabho ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

pālā ca upapālā ca - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (23)

Varuṇa và Sarabha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Pālā và Upacālā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Uccattanena so buddho  - asītihatthamuggato

obhāsesi disā sabbā  - indaketuva uggato. (24)

Đạt đến tám mươi cánh tay (40 mét) về chiều cao, đức Phật ấy tỏa sáng khắp cả các phương như là cây cờ hiệu của thần Inda đã được giương cao.

 

Tassa sarīre nibbattā  - pabhāmālā anuttarā

divā vā yadivā rattiṃ  - samantā pharati yojanaṃ. (25)

Vòm hào quang tối thắng phát xuất từ cơ thể của vị ấy tỏa ra xung quanh một do-tuần dầu là ban ngày hay ban đêm.

 

Saṭṭhivassasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (26)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến sáu mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Dassayitvā buddhabalaṃ  - amataṃ loke pakāsayi

nibbāsi anupādāno  - yathaggupādānasaṅkhayā. (27)

Sau khi đã thị hiện Phật lực, Ngài đã giảng giải pháp Bất Tử ở thế gian và đã Niết Bàn không còn chấp thủ tợ như ngọn lửa đã cạn nguồn nhiên liệu.

 

So ca kāyo ratananibho  - so ca dhammo asādiso

sabbaṃ samantarahitaṃ  - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (28)

Và thân thể như là châu báu ấy, Giáo Pháp không gì tương đương ấy, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

 

Revato yasadharo buddho  - nibbuto so mahāpuñño

dhātuvitthārikaṃ āsi  - tesu tesu padesatoti. (29)

Đức Phật Revata, bậc có danh tiếng, vị đại trí tuệ ấy đã Niết Bàn. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.

 

Revatabuddhavaṃso pañcamo.

Lịch sử đức Phật Revata là phần thứ năm.

--ooOoo--


[1] Bản Pāli của CD Budsir IV không ghi số thứ tự các câu kệ. Số thứ tự này được căn cứ theo Tạng Pāli của Anh để tiện việc trích dẫn. Những đoạn nào có ỏ Tạng Thái nhưng không được tìm thấy ở Tạng Anh sẽ không có ghi số. Các điểm sai khác giữa hai Tạng sẽ không được đề cập đến.

[2] Là tròn đủ về bố thí ba-la-mật cho mục đích thành tựu quả vị Phật.

[3] uḷurāja: vị vua của các vì tinh tú, tức là mặt trăng (ND).

[4] Đức Phật chỉ gọi “ehi bhikkhu = Này tỳ khưu hãy đến” thì vị được gọi tự nhiên có tóc được cạo sạch, mặc y mang bình bát, tướng mạo giống như các vị tỳ khưu đã tu lâu năm vậy. Nhiều vị sẽ được gọi là “etha bhikkhavo = Này các tỳ khưu hãy đến”(ND).

[5] Ganapāna được thực hiện từ bốn thứ mật ong, đường mật, bột, và bơ lỏng nấu chung lại, còn được gọi tên là catumadhurabhojanan (= món ăn gồm bốn thứ mật).

[6] 22 mét (1 ratana =25cm) (ND).

[7] Ý nói đến quả vị Toàn Giác.