SUTTANTAPIṬAKE  KHUDDAKANIKĀYASSA
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

BUDDHAVAṂSO
PHẬT  SỬ

-ooOoo-

CHAṬṬHO SOBHITABUDDHAVAṂSO

VI. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT SOBHITA

***

[7]

Revatassa aparena  - sobhito nāma nāyako

samāhito santacitto  - asamo appaṭipuggalo. (1)

Sau (đức Phật) Revata, vị Lãnh Đạo tên Sobhita là định tĩnh, có tâm thanh tịnh, không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.

 

So jino sakagehamhi  - mānasaṃ vinivattayi

patvāna kevalaṃ bodhiṃ  - dhammacakkaṃ pavattayi. (2)

Ở tại ngôi nhà của mình, đấng Chiến Thắng ấy đã chuyển đổi tâm trí, đã đạt đến sự Giác Ngộ hoàn toàn, và đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.

 

Yāva uddhaṃ avīcito  - bhavaggā cāpi heṭṭhato

etthantare ekaparisā  - ahosi dhammadesane. (3)

Từ địa ngục Avīci tính lên phía trên và từ cõi trời cao nhất tính xuống phía dưới, phần không gian ở giữa này đã có một tập thể (tụ hội) trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp.

 

Tāya parisāya sambuddho  - dhammacakkaṃ pavattayi

gaṇanāya na vattabbo  - paṭhamābhisamayo ahu. (4)

Đấng Toàn Giác đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp ở tại hội chúng ấy. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là không thể nói được bằng cách tính đếm.

 

Tato paraṃpi desente  - naramarūnaṃ samāgame

navutikoṭisahassānaṃ  - dutiyābhisamayo ahu. (5)

Về sau vào lúc khác, trong khi thuyết giảng ở cuộc hội tụ của loài người và chư thiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục ngàn koṭi.

 

Punāparaṃ rājaputto  - jayaseno nāma khattiyo

ārāmaṃ ropayitvāna  - buddhe niyyādayī tadā. (6)

Vào lần khác nữa, có vị vương tử dòng sát-đế-lỵ tên Jayasena sau khi cho trồng trọt khu vườn đã cống hiến đến đức Phật trong dịp ấy.

 

Tassa yāgaṃ pakittento  - dhammaṃ desesi cakkhumā

tadā koṭisahassānaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (7)

Trong khi công bố sự hiến dâng của vị ấy, bậc Hữu Nhãn đã thuyết giảng Giáo Pháp. Khi ấy, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của một ngàn koṭi.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - sobhitassa mahesino

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ  - santacittāna tādinaṃ. (8)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Sobhita đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.

 

Uggato nāma so rājā  - dānaṃ deti naruttame

tamhi dāne samāgañchuṃ  - arahantā satakoṭiyo. (9)

Đức vua tên Uggata ấy dâng cúng vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân. Trong lần cúng dường ấy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã tụ hội lại.

 

Punāparaṃ pūgagaṇo  - dānaṃ deti naruttame

tadā navutikoṭīnaṃ  - dutiyo āsi samāgamo. (10)

Vào lần khác nữa, có nhóm người thuộc đoàn thể dâng cúng vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân. Khi ấy, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi koṭi vị.

 

Devaloke vasitvāna  - yadā orohatī jino

tadā asītikoṭīnaṃ  - tatiyo āsi samāgamo. (11)

Vào lúc đấng Chiến Thắng giáng trần sau khi đã cư ngụ ở cõi trời, khi ấy đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi koṭi vị.

 

Ahantena samayena  - sujāto nāma brāhmaṇo

tadā sasāvakaṃ buddhaṃ  - annapānena tappayiṃ. (12)

Vào lúc bấy giờ, ta là vị bà-la-môn tên Sujāta. Khi ấy, ta đã làm hài lòng đức Phật cùng các vị Thinh Văn bằng thức ăn nước uống.

 

Sopi maṃ buddho byākāsi  - sobhito lokanāyako

aparimeyye ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (13)

Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sobhita, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ. (14a)

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ.

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (14b)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - tuṭṭho saṃviggamānaso

tamevatthamanuppattiyā  - uggaṃ dhitimakāsahaṃ. (15)

Nghe được lời nói của vị ấy, được hoan hỷ, với tâm trí phấn chấn, ta đã thực hiện sự nỗ lực tích cực nhằm theo đuổi chính mục đích ấy.

 

Sudhammaṃ nāma nagaraṃ - sudhammo nāma khattiyo

sudhammā nāma janikā  - sobhitassa mahesino. (16)

Thành phố có tên là Sudhamma, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Sudhamma, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Sobhita tên là Sudhammā.

 

Navavassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

kumudo nāḷinī padumo  - tayo pāsādamuttamā. (17)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Kumuda, Nāḷinī, và Paduma.

 

Ticattāri sahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

makilā nāma sā nārī  - sīho nāmāsi atrajo. (18)

Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Makilā. Con trai tên là Sīha.

 

Nimitte caturo disvā  - pāsādenābhinikkhami

sattāhaṃ padhānacāraṃ  - caritvā purisuttamo. (19)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài[1] và đã thực hành sự nỗ lực bảy ngày.

 

Brahmunā yācito santo  - sobhito lokanāyako

vattacakko mahāvīro  - sudhammuyyānamuttame. (20)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sobhita có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở vườn thượng uyển Sudhamma tuyệt vời.

 

Asamo ca sunetto ca  - ahesuṃ aggasāvakā

anomo nāmupaṭṭhāko  - sobhitassa mahesino. (21)

Asama và Sunetta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Sobhita tên là Anoma.

 

Nakulā ca sujātā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

bujjhamāno ca so buddho  - nāgamūle abujjhatha. (22)

Nakulā và Sujātā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Và khi ấy trong lúc giác ngộ, đức Phật ấy đã giác ngộ ở cội cây Nāga.

 

Rammo ceva sunetto ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

nakulā ceva cittā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (23)

Ramma và luôn cả Sunetta đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Nakulā và luôn cả Cittā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ  - accuggato mahāmuni

obhāseti disā sabbā  - sataraṃsīva uggato. (24)

Cao năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi), vị Đại Hiền Triết chiếu sáng tất cả các phương như là mặt trời mọc.

 

Yathā suphullaṃ pavanaṃ  - nānāgandhehi dhūpitaṃ

tatheva tassa pāvacanaṃ  - sīlagandhehi dhūpitaṃ. (25)

Giống như khu rừng lớn nở rộ hoa tỏa hương với các hương thơm khác loại, tương tợ y như thế lời tuyên thuyết của vị ấy tỏa hương với các hương thơm của giới.

 

Yathāpi sāgaro nāma  - dassanena atappiyo

tatheva tassa pāvacanaṃ  - savanena atappiyaṃ. (26)

Cũng giống như biển cả không thể được thỏa mãn bởi sự ngắm nhìn, tương tợ y như thế lời tuyên thuyết của vị ấy không thể được thỏa mãn bởi sự lắng nghe.

 

Navutivassasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (27)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Ovādaṃ anusiṭṭhiñca  - datvāna sesake jane

hutāsanova tāpetvā  - nibbuto so sasāvako. (28)

Sau khi đã ban lời giáo huấn và nhắc nhở các chúng sanh còn lại,[2] vị ấy cùng với các vị Thinh Văn đã phát cháy giống như ngọn lửa rồi đã Niết Bàn.

 

So ca buddho asamasamo  - te ca sāvakā balappattā

sabbaṃ tamantarahitaṃ  - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (29)

Đức Phật ấy là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, và các vị Thinh Văn ấy là đã thành tựu các năng lực, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

 

Sobhito varasambuddho  - sīhārāmamhi nibbuto

dhātuvitthārikaṃ āsi  - tesu tesu padesatoti. (30)

Đức Phật Sobhita, đấng Toàn Giác cao quý đã Niết Bàn tại tu viện Sīha. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.

 

Sobhitabuddhavaṃso chaṭṭho.

Lịch sử đức Phật Sobhita là phần thứ sáu.

--ooOoo--

 

SATTAMO ANOMADASSIBUDDHAVAṂSO

VII. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT ANOMADASSĪ

***

 

[8]

Sobhitassa aparena  - sambuddho dipaduttamo

anomadassī amitayaso  - tejasī duratikkamo. (1)

Sau (đức Phật) Sobhita, đấng Toàn Giác Anomadassī là đấng Tối Thượng Nhân có danh tiếng vô lường, có oai lực khó mà vượt trội.

 

So chetvā bandhanaṃ sabbaṃ  - viddhaṃsetvā tayo bhave

anivattigamanaṃ maggaṃ  - desesi devamānuse. (2)

Sau khi cắt đứt tất cả các sự trói buộc và hủy diệt (nghiệp tái sanh ở) ba cõi, vị ấy đã thuyết giảng cho chư thiên và loài người về Đạo Lộ đưa đến việc không còn luân hồi.

 

Sāgarova asaṅkhobbho  - pabbatova durāsado

ākāsova ananto so  - sālarājāva phullito. (3)

Vị ấy không chao động ví như biển cả, khó thể đạt đến như là ngọn núi, không có điểm cuối cùng ví như bầu không gian, và đã nở hoa như là cây Sālā chúa.

 

Dassanenapi taṃ buddhaṃ  - tositā honti pāṇino

byāharantaṃ giraṃ sutvā  - amataṃ pāpuṇanti te. (4)

Chỉ với sự nhìn thấy đức Phật ấy là chúng sanh khởi lên hoan hỷ. Sau khi lắng nghe lời nói đang diễn giải, họ đạt được Bất Tử.

 

Dhammābhisamayo tassa  - iddho phīto tadā ahu

koṭisatāni abhisamiṃsu  - paṭhame dhammadesane. (5)

Khi ấy, sự lãnh hội về Giáo Pháp của vị ấy là thành công và đạt được số lượng. Hàng trăm koṭi (chúng sanh) đã lãnh hội trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất.

 

Tato paraṃ abhisamaye  - vassante dhammavuṭṭhiyo

asītikoṭī abhisamiṃsu  - dutiye dhammadesane. (6)

Về sau vào lúc khác, trong khi đang đổ xuống những cơn mưa Giáo Pháp vào thời điểm thù thắng, tám chục koṭi (chúng sanh) đã lãnh hội trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhì.

 

Tato paraṃ hi vassante  - tappayanteva pāṇinaṃ

aṭṭhasattatikoṭīnaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (7)

Về sau vào lúc khác, khi đang đổ xuống cơn mưa (Giáo Pháp) và ngay trong lúc đang làm hài lòng chúng sanh, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của bảy mươi tám koṭi.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - tassāpi ca mahesino

abhiññābalappattānaṃ  - pupphitānaṃ vimuttiyā. (8)

Và bậc Đại Ẩn Sĩ ấy cũng đã có ba lần tụ hội gồm các vị đã đạt đến năng lực của các thắng trí và đã được đơm hoa trong sự giải thoát.

 

Aṭṭhasatasahassānaṃ  - sannipātā tadā ahu

pahīnamadamohānaṃ  - santacittāna tādinaṃ. (9)

Khi ấy, đã có cuộc tụ hội của tám trăm ngàn vị có sự tham đắm si mê đã được đoạn tận và có tâm thanh tịnh như thế ấy.

 

Sattasatasahassānaṃ  - dutiyo āsi samāgamo

anaṅgaṇānaṃ virajānaṃ  - upasantāna tādinaṃ. (10)

Lần hội tụ thứ nhì là của bảy trăm ngàn vị không còn ô nhiễm, thoát khỏi bụi trần, có sự an tịnh như thế ấy.

 

Channaṃ satasahassānaṃ  - tatiyo āsi samāgamo

abhiññābalappattānaṃ  - nibbutānaṃ tapassinaṃ. (11)

Lần hội tụ thứ ba là của sáu trăm ngàn vị đã đạt đến năng lực của các thắng trí, có sự nỗ lực cao, đã chứng Niết Bàn.

 

Ahantena samayena  - yakkho āsiṃ mahiddhiko

nekānaṃ yakkhakoṭīnaṃ  - vasavattimhi issaro. (12)

Vào lúc bấy giờ, ta là dạ-xoa có đại thần lực, là chúa tể cai quản nhiều koṭi dạ-xoa.

 

Tadāpi taṃ buddhavaraṃ  - upagantvā mahesinaṃ

annapānena tappesiṃ  - sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ. (13)

Khi ấy, ta cũng đã đi đến gặp bậc Đại Ẩn Sĩ, đức Phật cao quý ấy, và đã làm hài lòng đấng Lãnh Đạo Thế gian cùng hội chúng bằng cơm nước.

 

Sopi maṃ tadā byākāsi  - visuddhanayano muni

aparimeyye ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (14)

Khi ấy, bậc Hiền Triết ấy, có nhãn quan thanh tịnh, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ. (15a)

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyatta varamaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassa sataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (15b)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - tuṭṭho saṃviggamānaso

uttariṃ vattamadhiṭṭhāsiṃ  - dasapāramipūriyā. (16)

Nghe được lời nói của vị ấy, được hoan hỷ, với tâm trí phấn chấn, ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Nagaraṃ candavatī nāma  - yasavā nāma khattiyo

mātā yasodharā nāma  - anomadassissa satthuno. (17)

Thành phố có tên là Candavatī, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Yasavā, người mẹ của bậc Đạo Sư Anomadassī tên là Yasodharā.

 

Dasavassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

siri upasiri vaḍḍho  - tayo pāsādamuttamā. (18)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình trong mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Siri, Upasiri, và Vaḍḍha.

 

Tevīsatisahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

sirimā nāma sā nārī  - upasālo nāma atrajo. (19)

Có hai mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sirimā. Con trai tên là Upasāla.

 

Nimitte caturo disvā  - sivikāyābhinikkhami

anūnadasamāsāni  - padhānaṃ padahī jino. (20)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng kiệu khiêng và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.

 

Brahmunā yācito santo  - anomadassī mahāmuni

vattacakko mahāvīro  - sudassanuyyānamuttame. (21)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Đại Hiền Triết, đấng Đại Hùng Anomadassī, có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở tại công viên Sudassana tuyệt vời.

 

Nisabho ca anomo ca  - ahesuṃ aggasāvakā

varuṇo nāmupaṭṭhāko  - anomadassissa satthuno. (22)

Nisabha và cả Anoma đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Anomadassī tên là Varuṇa.

 

Sundarā ca sumanā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

bodhi tassa bhagavato  - ajjunoti pavuccati. (23)

Sundarā và Sumanā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Ajjuna.”

 

Nandivaḍḍho sirivaḍḍho  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

uppalā ca padumā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (24)

Nandivaḍḍha và Sirivaḍḍha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Uppalā và Padumā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ  - accuggato mahāmuni

pabhā niddhāvatī tassa  - sataraṃsīva uggato. (25)

Bậc Đại Hiền Triết cao năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi). Hào quang của vị ấy phát ra như là ánh mặt trời mọc.

 

Vassasatasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (26)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Supupphitaṃ pāvacanaṃ  - arahantehi tādihi

vītarāgehi vimalehi  - sobhati jinasāsanaṃ. (27)

Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng được rạng rỡ, lời tuyên thuyết khéo được đơm hoa nhờ vào các vị A-la-hán đã ly tham ái, không còn ô nhiễm như thế ấy.

 

So ca satthā amitayaso  - yugāni tāni atuliyāni

sabbaṃ tamantarahitaṃ  - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (28)

Bậc Đạo Sư có danh tiếng vô lượng ấy và hai vị (Thinh Văn hàng đầu) vô song ấy, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

 

Anomadassī jino satthā  - dhammārāmamhi nibbuto

tattheva tassa jinathūpo  - ubbedho pana vīsatīti. (29)

Đấng Chiến Thắng, bậc Đạo Sư Anomadassī đã Niết Bàn tại tu viện Dhamma. Hơn nữa, ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy có chiều cao hai mươi (do-tuần) ở ngay tại nơi ấy.

 

Anomadassibuddhavaṃso sattamo.

Lịch sử đức Phật Anomadassī là phần thứ bảy.

--ooOoo--

 

AṬṬHAMO PADUMABUDDHAVAṂSO

VIII. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT PADUMA

***

 

[9]

Anomadassissa aparena  - sambuddho dipaduttamo

padumo nāma nāmena  - asamo appaṭipuggalo. (1)

Sau (đức Phật) Anomadassī, đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân tên Paduma là không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.

 

Tassāpi asamaṃ sīlaṃ  - samādhipi anantako

asaṅkheyyaṃ ñāṇavaraṃ  - vimuttipi anūpamā. (2)

Giới của vị ấy là không ai sánh bằng, định là không có giới hạn, trí tuệ cao quý là không thể tính đếm, và giải thoát là không có tương đương.

 

Tassāpi atulatejassa  - dhammacakkappavattane

abhisamayā tayo āsuṃ  - mahātamapavāhanā. (3)

Cũng vào lúc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp của vị có oai lực vô song ấy, đã có ba cuộc lãnh hội là sự xua đuổi đi bóng đêm mù mịt.

 

Paṭhamābhisamaye buddho  - koṭisatamabodhayi

dutiyābhisamaye dhīro  - navutikoṭimabodhayi. (4)

Ở sự lãnh hội lần thứ nhất, đức Phật đã giác ngộ một trăm koṭi. Ở sự lãnh hội lần thứ nhì, bậc Thông Minh đã giác ngộ chín mươi koṭi.

 

Yadā ca padumo buddho  - ovadi sakamatrajaṃ

tadā asītikoṭīnaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (5)

Và vào lúc đức Phật Paduma giáo huấn người con trai của mình, khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục koṭi.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - padumassa mahesino

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamo āsi samāgamo. (6)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Paduma đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.

 

Kaṭhinatthārasamaye  - uppanne kaṭhinacīvare

dhammasenāpatitthāya  - bhikkhū sibbiṃsu cīvaraṃ. (7)

Vào dịp tiến hành lễ Kaṭhina, khi y Kaṭhina được phát sanh, các vị tỳ khưu đã may y để giao cho vị Tướng Quân Chánh Pháp.

 

Tadā te vimalā bhikkhū  - chaḷabhiññā mahiddhikā

tīṇi satasahassāni  - samiṃsu aparājitā. (8)

Khi ấy, ba trăm ngàn vị đã tụ hội lại. Các vị tỳ khưu ấy là không còn ô nhiễm, có sáu thắng trí, có đại thần lực, không bị thất bại.

 

Punāparaṃ so narāsabho  - pavane vāsaṃ upāgami

tadā samāgamo āsi  - dvinnaṃ satasahassānaṃ. (9)

Cũng vào dịp khác, đấng Nhân Ngưu ấy đã vào mùa (an cư) mưa ở trong rừng. Khi ấy, đã có cuộc hội tụ của hai trăm ngàn vị.

 

Ahantena samayena  - sīho āsiṃ migādhibhū

vivekamanubrūhantaṃ  - pavane addasaṃ jinaṃ. (10)

Vào lúc bấy giờ, ta là con sư tử chúa tể của các loài thú. Ta đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng đang thực hành hạnh độc cư ở trong rừng.

 

Vanditvā sirasā pāde  - katvāna taṃ padakkhiṇaṃ

tikkhattuṃ abhināditvā  - sattāhaṃ jinamupaṭṭhahiṃ. (11)

Ta đã đê đầu đảnh lễ ở chân (của đức Phật) rồi đã đi nhiễu quanh vị ấy, sau đó đã rống lên ba lần rồi đã phục vụ đấng Chiến Thắng bảy ngày.

 

Sattāhaṃ varasamāpattiyā  - vuṭṭhahitvā tathāgato

manasā cintayitvāna  - koṭibhikkhū samānayi. (12)

Sau khi xuất khỏi bảy ngày nhập thiền cao quý, đức Như Lai dụng tâm suy xét rồi đã triệu tập một koṭi (mười triệu) vị tỳ khưu.

 

Tadāpi so mahāvīro  - tesaṃ majjhe viyākari

aparimeyye ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (13)

Khi ấy, ở giữa các vị (tỳ khưu) ấy, đấng Đại Hùng ấy cũng đã chú nguyện rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ. (14a)

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyatta varamaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (14b)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ

uttariṃ vattamadhiṭṭhāsiṃ  - dasapāramipūriyā. (15)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Campakaṃ nāma nagaraṃ  - asamo nāma khattiyo

asamā nāma janikā  - padumassa mahesino. (16)

Thành phố có tên là Campaka, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Asama, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Paduma tên là Asamā.

 

Dasavassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

nando vasu yasattaro  - tayo pāsādamuttamā. (17)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình trong mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Nanda, Vasu, và Yasattara.

 

Tettiṃsa ca sahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

uttarā nāma sā nārī  - rammo nāmāsi atrajo. (18)

Và có ba mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Uttarā. Con trai tên là Ramma.

 

Nimitte caturo disvā  - rathayānena nikkhami

anūna-aṭṭhamāsāni  - padhānaṃ padahī jino. (19)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.

 

Brahmunā yācito santo  - padumo lokanāyako

vattacakko mahāvīro  - dhanañjuyyānamuttame. (20)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Paduma có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở tại công viên Dhanañja tuyệt vời.

 

Sālo ca upasālo ca  - ahesuṃ aggasāvakā

varuṇo nāmupaṭṭhāko  - padumassa mahesino. (21)

Sāla và cả Upasāla đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Paduma tên là Varuṇa.

 

Rādhā ceva surādhā ca  - ahesuṃ aggasāvikā

bodhi tassa bhagavato  - mahāsoṇoti vuccati. (22)

Rādhā và luôn cả Surādhā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Soṇa vĩ đại.”

 

Sabhiyo ceva asamo ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

rucī ca nandimārā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (23)

Sabhiyo và luôn cả Asama đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Rucī và Nandimārā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ  - accuggato mahāmuni

pabhā niddhāvatī tassa  - asamā sabbato disā. (24)

Vị Đại Hiền Triết ấy cao năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi). Hào quang không gì sánh bằng của vị ấy chiếu sáng tất cả các phương.

 

Candappabhā suriyappabhā  - ratanagghimaṇippabhā

sabbāpi tā hatā honti  - patvā jinappabhuttamaṃ. (25)

Ánh sánh của mặt trăng, ánh sáng của mặt trời, ánh sánh của châu báu và ngọc ma-ni đắt giá, tất cả các loại ánh sáng ấy cũng đều bị tiêu tan sau khi sánh cùng hào quang tối thắng của đấng Chiến Thắng.

 

Vassasatasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (26)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Paripakkamānase satte  - bodhayitvā asesato

sesaññe anusāsetvā  - nibbuto so sasāvako. (27)

Sau khi đã giác ngộ những chúng sanh có tâm trí đã được chín muồi không thiếu sót (người nào), sau khi chỉ dạy những người còn lại vị ấy cùng các vị Thinh Văn đã Niết Bàn.

 

Uragova tacaṃ jiṇṇaṃ  - vuḍḍhapattaṃva pādapo

jahitvā sabbasaṅkhāre  - nibbuto so yathā sikhīti.

Ví như con rắn bỏ đi lớp da già cỗi, ví như cây cối rủ bỏ lá úa tàn, vị ấy sau khi buông bỏ các hành đã Niết Bàn tương tợ như ngọn lửa đã được dập tắt.

 

Padumo jinavaro satthā  - dhammārāmamhi nibbuto

dhātuvitthārikaṃ āsi  - tesu tesu padesatoti. (29)

Bậc Đạo Sư Paduma, đấng Chiến Thắng cao quý đã Niết Bàn tại tu viện Dhamma. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.

 

Padumabuddhavaṃso aṭṭhamo.

Lịch sử đức Phật Paduma là phần thứ tám.

--ooOoo--

 

NAVAMO NĀRADABUDDHAVAṂSO

IX. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT NĀRADA

***

 

[10]

Padumassa aparena  - sambuddho dipaduttamo

nārado nāma nāmena  - asamo appaṭipuggalo. (1)

Sau (đức Phật) Paduma, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân tên Nārada là không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.

 

So buddho cakkavattissa  - jeṭṭho dayita-oraso

āmuttamaṇyābharaṇo  - uyyānaṃ upasaṅkami. (2)

Đức Phật ấy, người con trai trưởng yêu quý của vị chuyển luân vương, có sự trang sức với ngọc trai và ngọc ma-ni đã đi (bộ) đến công viên.

 

Tatthāsi rukkho vipulo  - abhirūpo brahā suci

tamajjhapatvā nisīdi  - mahāsoṇassa heṭṭhato. (3)

Ở tại nơi ấy có cội cây hùng vĩ, tuyệt đẹp, to lớn, thanh khiết. Sau khi đi đến nơi ấy, vị ấy đã ngồi xuống ở dưới cội cây Soṇa vĩ đại.

 

Tattha ñāṇavaruppajji  - anantaṃ vajirūpamaṃ

tena vicini saṅkhāre  - ukkujjamavakujjataṃ. (4)

Ở tại nơi ấy, trí tuệ cao quý, vô biên, (sắc bén) tợ kim cương đã được sanh khởi. Nhờ đó, vị ấy đã khảo sát các hành theo lối ngửa lên và theo lối úp xuống.

 

Tattha sabbakilesāni  - asesamabhivāhayi

pāpuṇi kevalaṃ bodhiṃ  - buddhañāṇe ca cuddasa. (5)

Ở tại nơi ấy, vị ấy đã xua đi tất cả các phiền não không còn dư sót, đã đạt đến quả vị Giác Ngộ hoàn toàn và mười bốn trí tuệ[3] của vị Phật.

 

Pāpuṇitvāna sambodhiṃ  - dhammacakkaṃ pavattayi

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamābhisamayo ahu. (6)

Sau khi đạt đến quả vị Toàn Giác, vị ấy đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi.

 

Mahādoṇaṃ nāgarājaṃ  - vinayanto mahāmuni

pāṭiheraṃ tadākāsi  - dassayanto sadevake. (7)

Trong lúc huấn luyện Long Vương Mahādoṇa, bậc Đại Hiền Triết đã thể hiện điều kỳ diệu ấy (Song Thông) cho thế gian luôn cả chư thiên nhìn thấy.

 

Tadā devamanussānaṃ  - tamhi dhammappakāsane

navutikoṭisahassāni  - tariṃsu sabbasaṃsayaṃ. (8)

Khi ấy, trong lần giảng giải Giáo Pháp ấy cho chư thiên và nhân loại, chín chục ngàn koṭi đã vượt qua tất cả các mối nghi hoặc.

 

Yamhi kāle mahāvīro  - ovadi sakamatrajaṃ

asītikoṭisahassānaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (9)

Vào thời điểm đấng Đại Hùng giáo giới người con trai của mình, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục ngàn koṭi.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - nāradassa mahesino

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamo āsi samāgamo. (10)

Bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.

 

Yadā buddho buddhaguṇaṃ  - sanidānaṃ pakāsayi

navutikoṭisahassāni  - samiṃsu vimalā tadā. (11)

Vào lúc đức Phật giảng giải về đức hạnh của chư Phật có cả phần duyên khởi, khi ấy chín mươi ngàn koṭi vị không còn ô nhiễm đã tụ hội lại.

 

Yadā verocano nāgo  - dānaṃ dadāti satthuno

tadā samiṃsu jinaputtā  - asītisatasahassino. (12)

Vào lúc con rồng Verocana dâng cúng vật thí đến bậc Đạo Sư, khi ấy tám mươi trăm ngàn (tám triệu) người con trai của đấng Chiến Thắng đã tụ hội lại.

 

Ahantena samayena  - jaṭilo uggatāpano

antalikkhacaro āsiṃ  - pañcābhiññāsu pāragū. (13)

Vào lúc bấy giờ, ta là đạo sĩ tóc bện, có khổ hạnh cao tột, đi lại ở trên không trung, toàn hảo về năm thắng trí.

 

Tadāpāhaṃ asamasamaṃ  - sasaṅghaṃ saparijanaṃ

annapānena tappetvā  - candanenābhipūjayiṃ. (14)

Khi ấy, sau khi làm hài lòng vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng cùng với hội chúng và đoàn tháp tùng bằng cơm nước, ta đã cúng dường gỗ đàn hương.

 

Sopi maṃ tadā byākāsi  - nārado lokanāyako

aparimeyye ito kappe  - buddho loke bhavissati. (15)

Khi ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Nārada ấy cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, (người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ. (16a)

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyatta varamaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (16b)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā  - bhiyyo hāsetvāna mānasaṃ

adhiṭṭhahiṃ vattaṃ uggaṃ  - dasapāramipūriyā. (17)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã khiến tâm được hoan hỷ bội phần. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Nagaraṃ dhaññavatī nāma - sudevo nāma khattiyo

anomā nāma janikā  - nāradassa mahesino. (18)

Thành phố có tên là Dhaññavatī, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Sudeva, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Nārada tên là Anomā.

 

Navavassasahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

jito vijitābhirāmo  - tayo pāsādamuttamā. (19)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Jita, Vijita, và Abhirāma.

 

Ticattārisasahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

vijitasenā nāma sā nārī  - nanduttaro nāma atrajo. (20)

Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vijitasenā. Con trai tên là Nanduttara.

 

Nimitte caturo disvā  - padasā gamanena nikkhami

sattāhaṃ padhānacāraṃ  - acari purisuttamo. (21)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng sự đi bộ (sự đi bằng bàn chân) và đã thực hành hạnh nỗ lực bảy ngày.

 

Brahmunā yācito santo  - nārado lokanāyako

vattacakko mahāvīro  - dhanañjuyyānamuttame. (22)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Nārada có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở công viên Dhanañja tuyệt vời.

 

Bhaddasālo jitamitto  - ahesuṃ aggasāvakā

vāseṭṭho nāmupaṭṭhāko  - nāradassa mahesino. (23)

Bhaddasāla và Jitamitta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada tên là Vāseṭṭha.

 

Uttarā phaggunī ceva  - ahesuṃ aggasāvikā

bodhi tassa bhagavato  - mahāsoṇoti vuccati. (24)

Uttarā và luôn cả Phaggunī đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Soṇa vĩ đại.”

 

Uggarindo vasabho ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

indavarī ca gaṇḍī ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (25)

Uggarinda và Vasabha sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Indavarī và Gaṇḍī sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Aṭṭhāsītiratanāni  - accuggato mahāmuni

kañcanagghikasaṅkāso  - dasasahassī virocati. (26)

Cao tám mươi tám ratana (22 mét), bậc Đại Hiền Triết ấy chiếu sáng mười ngàn thế giới tương tợ như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa.

 

Tassa byāmappabhākāyo  - niddhāvati disodisaṃ

nirantaraṃ divā rattiṃ  - yojanaṃ pharate sadā. (27)

Thân thể có ánh sáng hào quang của vị ấy chiếu ra các phương liên tục ngày dêm và luôn luôn tỏa sáng (xung quanh) một do-tuần.

 

Na keci tena samayena  - samantā yojane janā

ukkā padīpe ujjalenti  - buddharaṃsīhi otthatā. (28)

Vào lúc bấy giờ, được tràn ngập bởi các hào quang của đức Phật, những người ở xung quanh một do-tuần không ai thắp sáng các ngọn đèn đuốc.

 

Navutivassasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (29)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Yathā uḷubhi gaganaṃ  - vicittaṃ upasobhati

tatheva sāsanaṃ tassa  - arahantehi sobhati. (31)

Giống như bầu trời được trang điểm và chói sáng bởi các vì sao, tương tợ như thế ấy Giáo Pháp của vị ấy rạng rỡ nhờ vào các vị A-la-hán.

 

Saṃsārasotaṃ tāraṇāya  - sesake paṭipannake

dhammasetuṃ daḷhaṃ katvā  - nibbuto so narāsabho. (31)

Sau khi đã thiết lập vững chắc cây cầu Chánh Pháp để giúp vượt qua giòng chảy luân hồi đối với số người còn lại đã đạt được (đạo quả Hữu Học), đấng Nhân Ngưu ấy đã Niết Bàn.

 

Sopi buddho asamasamo  - tepi khīṇāsavā atulatejā

sabbaṃ tamantarahitaṃ  - nanu rittā sabbasaṅkhārāti. (32)

Đức Phật ấy là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, và các bậc Lậu Tận ấy là có oai lực vô song, tất cả đều hoàn toàn biết mất, phải chăng tất cả các hành là trống không?

 

Nārado jinavusabho  - nibbuto sudassane pure

tatheva jinathūpavaro  - catuyojanamuggatoti. (33)

Đấng Chiến Thắng hàng đầu Nārada đã Niết Bàn tại thành phố Sudassana. Ngôi bảo tháp cao quý của đấng Chiến Thắng đã được dựng lên cao bốn do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

 

Nāradabuddhavaṃso navamo.

Lịch sử đức Phật Nārada là phần thứ chín.

--ooOoo--

 

DASAMO PADUMUTTARABUDDHAVAṂSO

X. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT PADUMUTTARA

***

 

[11]

Nāradassa aparena  - sambuddho dipaduttamo

padumuttaro nāma jino  - akkhobbho sāgarūpamo. (1)

Sau (đức Phật) Nārada, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân tên Padumuttara là không bị chao động, tương tợ như biển cả.

 

Maṇḍakappo ca so āsi  - yamhi buddho ajāyatha

ussannakusalā janatā  - tamhi kappe ajāyatha. (2)

Và đức Phật đã sanh lên vào kiếp Maṇḍa ấy.[4] Chúng sanh đã sanh lên trong kiếp ấy là vô cùng tốt lành.[5]

 

Padumuttarassa bhagavato  - paṭhame dhammadesane

koṭisatasahassānaṃ  - dhammābhisamayo ahu. (3)

Trong khi đức Thế Tôn Padumuttara thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của một trăm ngàn koṭi.

 

Tato paraṃpi vassante  - tappayante ca pāṇine

sattatiṃsasatasahassānaṃ  - dutiyābhisamayo ahu. (4)

Về sau vào lúc khác nữa, trong lúc đổ xuống cơn mưa (Giáo Pháp) khiến cho các hạng chúng sanh được hài lòng, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của ba mươi bảy trăm ngàn (ba triệu bảy trăm ngàn) koṭi.

 

Yamhi kāle mahāvīro  - ānandaṃ upasaṅkami

pitusantikaṃ upagantvā  - āhani amatadundubhiṃ. (5)

Vào thời điểm đấng Đại Hùng đi đến gặp (người cha là) Ānanda, sau khi đã đi đến trong sự hiện diện của người cha, Ngài đã gióng lên tiếng trống Bất Tử.

 

Āhate amatabherimhi  - vassante dhammavuṭṭhiyo

paññāsasatasahassānaṃ  - tatiyābhisamayo ahu. (6)

Khi tiếng trống Bất Tử đã được gióng lên và trong khi cơn mưa Pháp Bảo đang rơi xuống, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của năm mươi trăm ngàn (năm triệu) koṭi.

 

Ovādako viññāpako  - tārako sabbapāṇinaṃ

desanākusalo buddho  - tāresi janataṃ bahuṃ. (7)

Là vị giáo giới, vị làm cho hiểu rõ, vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, đức Phật thiện xảo về thuyết giảng đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Sannipātā tayo āsuṃ  - padumuttarassa satthuno

koṭisatasahassānaṃ  - paṭhamo āsi samāgamo. (8)

Bậc Đạo Sư Padumuttara đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.

 

Yadā buddho asamasamo  - vasi vebhārapabbate

navutikoṭisahassānaṃ  - dutiyo āsi samāgamo. (9)

Khi đức Phật, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, cư ngụ ở tại ngọn núi Vebhāra, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi ngàn koṭi vị.

 

Puna cārikaṃ pakkante  - gāmanigamaraṭṭhato

asītikoṭisahassānaṃ  - tatiyo āsi samāgamo. (10)

Hơn nữa, trong khi ra đi du hành từ các làng mạc, thị trấn, và quốc độ, đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi ngàn koṭi vị.

 

Ahantena samayena  - jaṭilo nāma raṭṭhiko

sambuddhappamukhaṃ saṅghaṃ  - sabhattaṃ dussamadāsihaṃ. (11)

Vào lúc bấy giờ, ta là vị lãnh chúa tên Jaṭila. Ta đã cúng dường vải cùng với bữa ăn đến hội chúng (tỳ khưu) có bậc Toàn Giác đứng đầu.

 

Sopi maṃ buddho byākāsi  - saṅghamajjhe nisīdiya

satasahasse ito kappe  - ayaṃ buddho bhavissati. (12)

Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong một trăm ngàn kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.

 

Ahu kapilavhayā rammā - nikkhamitvā tathāgato

padhānaṃ padahitvāna  - katvā dukkarakārikaṃ. (13a)

Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

 

Ajapālarukkhamūlasmiṃ - nisīditvā tathāgato

tattha pāyāsaṃ paggayha - nerañjaramupehiti.

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

 

Nerañjarāya tīramhi - pāyāsaṃ adi so jino

paṭiyattavaramaggena - bodhimūlamhi ehiti.

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

 

Tato padakhiṇaṃ katvā - bodhimaṇḍaṃ anuttaraṃ

assattharukkhamūlamhi  - bujjhissati mahāyaso.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

 

Imassa janikā mātā  - māyā nāma bhavissati

pitā suddhodano nāma  - ayaṃ hessati gotamo.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

 

Anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā

kolito upatisso ca  - aggā hessanti sāvakā

ānando nāmupaṭṭhāko  - upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

 

Khemā uppalavaṇṇā ca  - aggā hessanti sāvikā

anāsavā vītarāgā - santacittā samāhitā.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

 

Bodhi tassa bhagavato  - assatthoti pavuccati.

citto ca hatthāḷavako  - aggā hessantupaṭṭhakā.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Nandamātā ca uttarā  - aggā hessantupaṭṭhikā

āyu vassasataṃ tassa  - gotamassa yasassino.

Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.

 

Idaṃ sutvāna vacanaṃ  - asamassa mahesino

āmoditā naramarū  - buddhavījaṅkuro ayaṃ.

Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”

 

Ukkuṭṭhisaddā vattanti  - apphoṭenti hasanti ca

katañjalī namassanti  - dasasahassī sadevakā.

Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

 

Yadimassa lokanāthassa  - virajjhissāma sāsanaṃ

anāgatamhi addhāne  - hessāma sammukhā imaṃ.

Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.

 

Yathā manussā nadiṃ tarantā  - paṭititthaṃ virajjhiya

heṭṭhā titthaṃ gahetvāna - uttaranti mahānadiṃ.

Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.

 

Evameva mayaṃ sabbe - yadi muñcāmimaṃ jinaṃ

anāgatamhi addhāne - hessāma sammukhā imaṃ. (13b)

Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

 

Tassāpi vacanaṃ sutvā  - uttariṃ vattamadhiṭṭhahiṃ

akāsiṃ uggaṃ daḷhaṃ dhitiṃ  - dasapāramipūriyā. (14)

Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã quyết định sự thực hành tối thắng. Ta đã thực hiện sự nỗ lực vô cùng bền bĩ để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.

 

Byāhatā titthiyā sabbe  - vimanā dummanā tadā

na tesaṃ keci paricaranti  - raṭṭhato nicchubhanti te. (15)

Khi ấy, tất cả các người ngoại đạo bị ruồng bỏ trở nên hốt hoảng, tâm trí chán nản. Không còn những người phục vụ bọn họ. Mọi người xua đuổi họ ra khỏi quốc độ.

 

Sabbe tattha samāgantvā  - upagacchuṃ buddhasantike

tuvaṃ nātho mahāvīra  - saraṇaṃ hohi cakkhumā. (16)

Tất cả đã tụ hội lại tại nơi ấy và đã đi đến gặp đức Phật (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng, ngài là vị lãnh đạo. Hỡi bậc Hữu Nhãn, ngài hãy là chốn nương nhờ.”

 

Anukampako kāruṇiko  - hitesī sabbapāṇinaṃ

sampatte titthiye sabbe  - pañcasīle patiṭṭhahi. (17)

Bậc có lòng thương xót, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh đã an trú tất cả những người ngoại đạo đã đi đến vào năm giới cấm.

 

Evaṃ nirākulaṃ āsi  - suññataṃ titthiyehi taṃ

vicittaṃ arahantehi  - vasībhūtehi tādihi. (18)

Như thế, Giáo Pháp đã không bị pha trộn, không còn các ngoại đạo, và được tô điểm bởi các vị A-la-hán ở vào trạng thái thu thúc như thế ấy.

 

Nagaraṃ haṃsavatī nāma  - ānando nāma khattiyo

sujātā nāma janikā  - padumuttarasatthuno. (19)

Thành phố có tên là Haṃsavatī, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Ānanda, người mẹ của bậc Đạo Sư Padumuttama tên là Sujātā.

 

Navavassa sahassāni  - agāraṃ ajjhāvasi so

nārī bāhano yasavatī  - tayo pāsādamuttamā. (20)

Vị ấy đã sống đời sống gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Nārī, Bāhana, và Yasavatī.

 

Ticattāri sasahassāni  - nāriyo samalaṅkatā

vasuladattā nāma nārī  - uttamo nāma atrajo. (21)

Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vasuladattā. Con trai tên là Uttama.

 

Nimitte caturo disvā  - pāsādenābhinikkhami

sattāhaṃ padhānacāraṃ  - acari purisuttamo. (22)

Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài và đã thực hành hạnh nỗ lực bảy ngày.

 

Brahmunā yācito santo  - padumuttaro vināyako

vattacakko mahāvīro  - mithiluyyānamuttame. (23)

Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Hướng Đạo, đấng Đại Hùng Padumuttara có bánh xe (Chánh Pháp) đã được chuyển vận ở công viên tuyệt vời Mithila.

 

Devilo ca sujāto ca  - ahesuṃ aggasāvakā

sumano nāmupaṭṭhāko  - padumuttarassa satthuno. (24)

Devila và Sujāta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Padumuttara tên là Sumana.

 

Amitā asamā ceva  - ahesuṃ aggasāvikā

bodhi tassa bhagavato  - salaḷoti pavuccati. (25)

Amitā và luôn cả Asamā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Salaḷa.”

 

Amito ceva tisso ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhakā

haṭṭhā ceva sucittā ca  - ahesuṃ aggupaṭṭhikā. (26)

Amita và luôn cả Tissa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Haṭṭhā và luôn cả Sucittā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.

 

Aṭṭhapaññāsaratanaṃ  - accuggato mahāmuni

kañcanagghikasaṅkāso  - dvattiṃsavaralakkhaṇo. (27)

Đạt đến năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi) về chiều cao, đấng Đại Hiền Triết với ba mươi hai tướng trạng cao quý tương tợ như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa.

 

Kuḍḍā kavāṭā bhitti ca  - rukkhā nagasiluccayo

na tassāvaraṇaṃ atthi  - samantā dvādasayojane. (28)

Các tường thành, cửa lớn, vách đất, cây cối, mỏm đá ở xung quanh mười hai do-tuần không có che khuất vị ấy.

 

Vassasatasahassāni  - āyu vijjati tāvade

tāvatā tiṭṭhamāno so  - tāresi janataṃ bahuṃ. (29)

Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

Santāretvā bahujaññaṃ  - chinditvā sabbasaṃsayaṃ

jalitvā aggikkhandhova  - nibbuto so sasāvako. (30)

Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua, sau khi đã cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc, vị ấy đã rực cháy như là khối lửa rồi đã Niết Bàn cùng với các vị Thinh Văn.

 

Padumuttaro jino buddho  - nandārāmamhi nibbuto

tattheva tassa thūpavaro  - dvādasamubbedhayojanoti. (31)

Đức Phật, đấng Chiến Thắng Padumuttara đã Niết Bàn tại tu viện Nandā. Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy có chiều cao mười hai do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

 

Padumuttarabuddhavaṃso dasamo.

Lịch sử đức Phật Padumuttara là phần thứ mười.

--ooOoo--


[1] Tòa lâu đài bay lên không trung đưa vị Bồ Tát đến gần cội cây Bồ Đề để thực hành khổ hạnh và sau đó chứng đắc quả vị Toàn Giác.

[2] Nghĩa là chưa chứng đắc được Đạo Quả.

[3] Mười bốn trí tuệ của vị Phật gồm có 8 trí về Đạo Quả và sáu trí không phổ thông là: trí biết được khuynh hướng ngũ ngầm của chúng sanh (āsayānusayañāṇaṃ), trí biết được năng lực của người khác (indriyaparopariyañāṇaṃ), trí thị hiện song thông (yamakapāṭihāriyañāṇaṃ), trí thể nhập đại bi (mahākaruṇāsamāpattiñāṇaṃ), trí toàn tri (sabbaññutaññāṇaṃ), trí không chướng ngại (anāvaraṇañāṇaṃ).

[4] Đức Phật Padumuttara sanh lên vào sārakappa (kiếp chỉ có một vị Phật) nhưng có tánh chất tương đương như là maṇḍakappa (kiếp có hai vị Phật) vì thành tựu được nhiều đức hạnh; nên được gọi là maṇḍakappa.

[5] Chú Giải ghi như sau: ussannakusalāti upacitapuññā: “vô cùng tốt lành” nghĩa là đã tích lũy được nhiều phước báu.