SUTTANTAPIṬAKE  KHUDDAKANIKĀYASSA
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

BUDDHAVAṂSO
PHẬT  SỬ

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

--ooOoo--

RATANACAṄKAMANAKAṆḌO

CHƯƠNG DẪN NHẬP: CON ĐƯỜNG KINH HÀNH BẰNG CHÂU BÁU

[1]

Brahmā ca lokādhipatī sahampati

katañjalī anadhivaraṃ ayācatha

santīdha sattā apparajakkhajātikā

desehi dhammaṃ anukampimaṃ pajanti. (1)[1]

Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati chúa tể của thế gian đã chắp tay thỉnh cầu đức Phật rằng: “Ở đây có những chúng sanh có bản chất ít bị ô nhiễm, xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn thuyết giảng Giáo Pháp đến hạng chúng sanh này.”

 

Bhagavā lokādhipatī naruttamo

katañjalībrahmagaṇehi yācito

santīdha dhīrāpparajakkhajātikā

desetu dhammaṃ anukampimaṃ pajaṃ.

Đức Thế Tôn, vị chúa tể của thế gian và là đấng tối thượng của loài người, đã được hội chúng Phạm Thiên chắp tay lên thỉnh cầu rằng: “Ở đây có những chúng sanh có bản chất ít bị ô nhiễm, xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn thuyết giảng Giáo Pháp đến hạng chúng sanh này.

 

Desetu sugato dhammaṃ  - desetu amataṃ padaṃ

lokānamanukampāya  - dhammaṃ desetu nāyaka.

Xin đấng Thiện Thệ hãy thuyết giảng Giáo Pháp. Xin Ngài hãy thuyết giảng đạo lộ Bất Tử. Hỡi đấng Lãnh Đạo, vì lòng bi mẫn đối với thế gian xin Ngài hãy thuyết giảng Giáo Pháp.

 

Sampannavijjācaraṇassa tādino

jutindharass’antimadehadhārino

tathāgatass’appaṭipuggalassa

uppajji kāruññatā sabbasatte. (2)

Lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh đã sanh khởi đến Ngài là vị đã thành tựu toàn vẹn trí tuệ và đức hạnh (Minh Hạnh Túc) như thế ấy, là đấng Quang Minh có thân mạng cuối cùng, là đức Như Lai không người sánh kịp.”

 

Taṃ sutvā bhagavā satthā idaṃ vacanamabravi.

Nghe vậy, đức Thế Tôn bậc Đạo Sư đã nói lời này:

 

Apārutā te amatassa dvārā

ye sotavanto pamuñcantu saddhaṃ

vihiṃsasaññī paguṇaṃ na bhāsiṃ

dhammaṃ paṇītaṃ manujesu brahmeti.

Những ai có tai nghe hãy cởi trói niềm tin. Các cánh cửa bất tử là không còn che lấp đối với các vị ấy. Này Phạm Thiên, do suy nghĩ là tai hại nên ta đã không thuyết giảng cho các chúng sanh về Giáo Pháp tuyệt vời đã được thuần thục.”

 

Bhagavā tasmiṃ samaye - veneyyānaṃnukampako

ajapālanigrodhadumā - pāyāsi munipuṅgavo.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, đấng Hiền Triết cao thượng, vị có lòng bi mẫn đối với những người cần được huấn luyện, đã khởi đầu từ cội cây Nigrodha của những người chăn dê.

 

Anukkamena gamanena - bārāṇasimupāgami

tasmiṃ hi pallaṅkavare  - nisīdi bhagavā tadā.

Với sự ra đi theo tuần tự, đức Thế Tôn đã ngự đến Bārāṇasī. Khi ấy, Ngài đã ngồi xuống trong chính tư thế kiết già cao quý ấy.

 

Pañcannaṃ vaggiyānañca - dhammacakkappavattayi

dukkhaṃ dukkhasamuppādaṃ  - nirodhaṃ maggamuttamaṃ.

Và Ngài đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp về Khổ, về sự sanh khởi của Khổ, về Diệt, và về Đạo Lộ tối thượng đến nhóm năm vị.

 

Pavattayi taṃ bhagavā  - isī te pañcavaggiyā

aṭṭhārasakoṭi tadā - brahmadevagaṇā saha.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã chuyển vận điều ấy đến nhóm ẩn sĩ năm vị ấy cùng với hội chúng Phạm Thiên gồm mười tám koṭi vị.[2]

 

Paṭhamasmiṃ sannipāte  - dhammābhisamayā labhu

koṇḍañño bhaddiyo vappo - mahānāmo ca assaji.

Trong lần tụ hội thứ nhất, Koṇḍañño, Bhaddiyo, Vappo, Mahānāmo, và Assaji đã đạt được sự lãnh hội Giáo Pháp.

 

Vinītā tena parena - sabbepi anupubbaso

aṭṭhārasakoṭi tadā - brahmadevagaṇā saha.

Khi ấy, tất cả đã được huấn luyện theo tuần tự từ vị này đến vị khác cùng với hội chúng Phạm Thiên gồm mười tám koṭi vị.

 

Paṭhamasmiṃ sannipāte - sotāpattiphalaṃ tadā

anukkamena gamanena - rājagahamupāgami.

Khi ấy, trong lần tụ hội thứ nhất đã có quả vị Nhập Lưu. Với sự ra đi theo tuần tự, Ngài đã ngự đến Rājagaha (Vương Xá).

 

Veḷuvanamahāvihāre - vihāsi munipuṅgavo

taṃ sutvā bimbisāro ca - bhagavantamupasaṅkami.

Vị Hiền Triết cao thượng đã ngự tại đại tu viện Veḷuvana. Và sau khi nghe được điều ấy, (đức vua) Bimbisāra (Bình Sa Vương) đã đi đến gặp đức Thế Tôn.

 

Ekādasanahuteneva - parivārā mahā ahu

dīpagandhadhūpamālādīni - bhagavantamabhipūjayi.

Đám tùy tùng là đông đảo với mười một nahuta (110.000) người.[3] (Đức vua) đã cúng dường đèn, hương thơm, nhang, tràng hoa, v.v... đến đức Thế Tôn.

 

Tasmiṃ samāgameyeva - kāmādīnava desayi

desanāpariyosāne - rājānampamukhaṃ tadā.

Khi ấy tại chính cuộc hội tụ này, Ngài đã thuyết giảng về tai hại của các dục đến vị vua lãnh tụ cho đến khi chấm dứt cuộc thuyết giảng.

 

Caturāsītisahassānaṃ - dhammābhisamayo ahu

taṃ sutvāna pitā rājā - nava dūtāni pesayi.

Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người. Nghe được điều ấy, vua cha đã phái đi chín vị sứ giả.

 

Navasahassaparivārehi  - pabbajjaṃ yācate muniṃ

navasahassaparivārā - arahattamupāgamuṃ.

Cùng với chín ngàn tùy tùng, họ đã cầu xin đấng Hiền Triết về việc xuất gia. Họ và đoàn tùy tùng chín ngàn người đã đạt đến phẩm vị A-la-hán.

 

Kāḷudāyi pariyosāne - bhikkhuvesaṃ gahetvā so

sahassaparivārehi  - bhagavantaṃ nimantayi.

Cuối cùng, vị Kāḷudāyi ấy sau khi đạt được hình tướng tỳ khưu cùng với một ngàn tùy tùng đã mời thỉnh đức Thế Tôn.

 

Nimantamadhivāsetvā - mahāmaggaṃ paṭipajjati

vīsatisahassabhikkhūhi - pāyāsi sakyapuṅgavo.

Sau khi nhận lời thỉnh mời, đấng thực hành đạo lộ vĩ đại, vị Sakya cao thượng, đã lên đường cùng với hai mươi ngàn vị tỳ khưu.

 

Anukkamena gamanena - kapilavatthumupāgami

rohiṇiyā nadītīre - pāṭihāramakāsi so.

Với sự ra đi theo tuần tự, Ngài đã ngự đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Vị ấy đã thực hiện điều kỳ diệu ở bờ sông Rohiṇī.

 

Tasmiṃ pallaṅkamajjhamhi - nisīdi sakyapuṅgavo

mahāvessantaradhammaṃ - desetvā bhagavā pitu

caturāsītisahassānaṃ - dhammābhisamayo ahu.

Vị Sakya cao thượng đã ngồi xuống ở trung tâm với thế kiết già ấy. Đức Thế Tôn đã thuyết giảng Giáo Pháp về (Bổn Sanh) Vessantara vĩ đại đến người cha. Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người.

 

Na h’ete jānanti sadevamanussā

buddho ayaṃ kīdisako naruttamo

iddhibalaṃ paññābalañca kīdisaṃ

buddhabalaṃ lokahitassa kīdisaṃ. (3)

(Đức Phật quán rằng:) “Bởi vì chư thiên và đám người này không biết được đức Phật đấng Tối Thượng Nhân này là như thế nào, (không biết được) năng lực của thần thông và năng lực của trí tuệ là như thế nào, (không biết được) Phật lực của đấng tế độ chúng sanh là như thế nào.

 

Na h’ete jānanti sadevamanussā

buddho ayaṃ īdisako naruttamo

iddhibalaṃ paññābalañca īdisaṃ

buddhabalaṃ lokahitassa īdisaṃ. (4)

Bởi vì chư thiên và đám người này không biết được đức Phật đấng Tối Thượng Nhân này là như vầy, (không biết được) năng lực của thần thông và năng lực của trí tuệ là như vầy, (không biết được) Phật lực của đấng tế độ chúng sanh là như vầy.

 

handāhaṃ dassayissāmi  - buddhabalaṃ anuttaraṃ

caṅkamaṃ māpayissāmi  - nabhe ratanamaṇḍitaṃ. (5)

Như vậy, ta sẽ thị hiện Phật lực tối thượng. Ta sẽ làm hiện ra con đường kinh hành được trang hoàng bằng châu báu ở trên không trung.”

 

Bhummā mahārājikā tāvatiṃsā

yāmā ca devā tusitā ca nimmitā

paranimmitā yepi ca brahmakāyikā

ānanditā vipulamakaṃsu ghosaṃ. (6)

Chư thiên thuộc địa cầu, thuộc cõi Tứ Đại Thiên Vương, thuộc cõi Đạo Lợi, thuộc cõi Dạ Ma, thuộc cõi Đẩu Suất, thuộc cõi Hóa Lạc Thiên, thuộc cõi Tha Hóa Tự Tại, luôn cả đoàn tùy tùng thuộc cõi Phạm Thiên nữa đều hoan hỷ và đã tạo nên tiếng hò reo vang dội.

 

Obhāsitā ca paṭhavī sadevakā

puthū ca lokantarikā asaṃvutā

tamo ca tibbo vihato tadā ahu

disvāna accherakapāṭihīraṃ. (7)

Khi ấy, sau khi chứng kiến điều kỳ diệu phi thường, quả địa cầu cùng với các cõi trời đã được chiếu sáng và vô số khoảng không gian tối đen dầy đặc phân chia các cõi thế giới đều bị tiêu tan.

 

Sadevagandhabbamanussarakkhase

ābhā uḷārā vipulā ajāyatha

imasmiṃ loke parasmiṃ cūbhaye

adhopi ca uddhaṃ tiriyañca vitthataṃ. (8)

Ánh sáng chói lọi rực rỡ đã hiện ra bên dưới, bên trên, chiều ngang, và chiều dọc ở giữa các hạng thiên nhân, càn-thát-bà, nhân loại, và quỷ sứ ở cả hai nơi: ở thế gian này và ở thế giới khác.

 

Sattuttamo anadhivaro vināyako

satthā ahu devamanussapūjito

mahānubhāvo satapuññalakkhaṇo

dassesi accherakapāṭihīriyaṃ. (9)

Được chư thiên và nhân loại cúng dường, đấng Đạo Sư, bậc Tối Thượng của chúng sanh, không ai vượt trội, là nhà lãnh đạo có đại oai lực có trăm tướng mạo về phước báu, đã thị hiện điều kỳ diệu phi thường.

 

tasmiṃ samāgame satthā  - abbhuggantvā nabhe tale

sinerupabbataṃ rammaṃ - caṅkamaṃ māpayī jino.

Trong cuộc hội tụ ấy, đấng Đạo Sư đấng Chiến Thắng, sau khi bay lên trên bề mặt không trung, đã làm hiện ra ngọn núi Sineru có con đường kinh hành xinh đẹp.

 

Dasasahassilokadhātu- - devatā - jinasantike

tathāgataṃ namassitvā - buddhapūjaṃ kariṃsu te.

Trong sự hiện diện của đấng Chiến Thắng, chư thiên của mười ngàn thế giới đã kính lễ đức Như Lai. Họ đã thực hiện sự cúng dường đến đức Phật.

 

So yācito devavarena cakkhumā

atthaṃ samekkhitvā tadā naruttamo

caṅkamaṃ māpayi lokanāyako

suniṭṭhitaṃ sabbaratananimmitaṃ. (10)

Khi được thỉnh cầu bởi vị thiên nhân cao quý, bậc Hữu Nhãn ấy, đấng Tối Thượng Nhân, vị Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi quán xét về điều lợi ích đã làm hiện ra con đường kinh hành được hoàn thành khéo léo và đã được thực hiện bằng tất cả các loại châu báu.

 

Iddhi ca ādesanānusāsanī

tipāṭihīre bhagavā vasī ahu

caṅkamaṃ māpayi lokanāyako

suniṭṭhitaṃ sabbaratananimmitaṃ. (11)

Đức Thế Tôn đã thuần thục về ba điều kỳ diệu là: thần thông, tài thuyết giảng, và sự giáo hóa. Đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã làm hiện ra con đường kinh hành được hoàn thành khéo léo và đã được thực hiện bằng tất cả các loại châu báu.

 

Dasasahassīlokadhātuyā  - sinerupabbatuttame thambheva

dassesi paṭipāṭiyā - caṅkame ratanāmaye. (12)

Ở tại mười ngàn thế giới, Ngài đã thị hiện theo tuần tự những con đường kinh hành làm bằng châu báu giống như các cột trụ ở ngọn núi Sineru tối thắng.

 

Dasasahassaṃ atikkamma  - caṅkamaṃ māpayī jino

sabbasoṇṇamayā passe  - caṅkame ratanāmaye. (13)

Sau khi vượt qua mười ngàn thế giới, đấng Chiến Thắng đã tạo ra con đường kinh hành làm toàn bằng vàng ở bên cạnh con đường kinh hành làm bằng châu báu.

 

Tulāsaṅghāṭānuvattā - sovaṇṇaphalakatthatā

vedikā sabbasovaṇṇā  - dubhato passesu nimmitā. (14)

Trong việc đi kinh hành ấy, vị thông thái, bậc

Tất cả chư thiên đã tụ hội lại rải rắc xuống bông hoa mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô thuộc về cõi trời (tán thán) sự việc đi kinh hành (của đức Phật).

 

Passanti taṃ devasaṅghā  - dasasahassī samāgatā

namassamānā nipatanti  - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā. (18)

Chư thiên ở cõi Đạo Lợi, cõi Dạ Ma, luôn cả cõi Đẩu Suất, chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên và chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại chiêm ngưỡng vị Lãnh Đạo Thế Gian với tâm phấn khởi hân hoan.

 

Sadevagandhabbamanussarakkhasā

nāgā supaṇṇā athavāpi kinnarā

passanti taṃ lokahitānukampakaṃ

nabheva accuggatacandamaṇḍalaṃ. (20)

Cùng với chư thiên, các hạng càn-thát-bà, nhân loại, quỷ sứ, các loài rồng, thiên điểu, luôn cả loài kim-sỉ-điểu, nhìn thấy đấng tế độ chúng sanh có lòng bi mẫn ấy giống như mặt trăng tròn đã mọc lên ở ngay trên bầu trời.

 

Ābhassarā subhakiṇhā  - vehapphalā akaniṭṭhā ca

susuddhasukka vatthavasanā  - tiṭṭhanti pañjalīkatā. (21)

(Chư thiên) ở các cõi Quang Âm Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quảng Quả Thiên, và Vô Tưởng Thiên với trang phục vô cùng tinh khiết thanh bạch đứng chắp tay.

 

Muñcanti pupphaṃ pana pañcavaṇṇikaṃ

mandāravaṃ candanacuṇṇamissakaṃ

bhamanti celāni ca ambare tadā

aho jino lokahitānukampako. (22)

Hơn nữa, các vị còn rắc xuống bông hoa mạn-đà-la năm màu được trộn lẫn với bột phấn gỗ đàn hương và vung vẫy các tấm vải ở trên không trung (ca ngợi rằng): “Ôi Đấng Chiến Thắng, bậc có lòng bi mẫn tế độ chúng sanh.

 

Tuvaṃ satthā ca ketu ca  - dhajo yūpo ca pāṇinaṃ

parāyano patiṭṭhā ca  - dīpo ca dipaduttamo. (23)

[4] là bậc tối thượng của loài hai chân.”

 

Dasasahassilokadhātuyā  - devatāyo mahiddhikā

parivāretvā namassanti  - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā. (24)

(Với vẻ) hớn hở, vui mừng, hoan hỷ, chư thiên thuộc mười ngàn thế giới có đại thần lực vây quanh lại tỏ sự tôn kính.

 

Devatā devakaññā ca  - pasannā tuṭṭhamānasā

pañcavaṇṇikapupphehi  - pūjayanti narāsabhaṃ. (25)

Với tâm tư hớn hở tín thành, các thiên nhân và các tiên nữ cúng dường những bông hoa ngũ sắc đến bậc Nhân Ngưu.

 

Passanti taṃ devasaṅghā - pasannā tuṭṭhamānasā

pañcavaṇṇikapupphehi  - pūjayanti narāsabhaṃ. (26)

Chiêm ngưỡng vị ấy, hội chúng chư thiên (khởi tâm) tín thành, có tâm tư hoan hỷ, rồi cúng dường những bông hoa ngũ sắc đến bậc Nhân Ngưu (tán thán rằng):.

 

Aho acchariyaṃ loke  - abbhūtaṃ lomahaṃsanaṃ

na medisaṃ bhūtapubbaṃ  - accheraṃ lomahaṃsanaṃ. (27)

Ôi thật là điều kỳ diệu ở thế gian! Thật là phi thường khiến lông dựng đứng! Điều kỳ diệu khiến lông dựng đứng giống như việc này trước đây chưa từng xảy ra!”

 

Sakasakamhi bhavane  - nisīditvāna devatā

hasanti tā mahāhasitaṃ  - disvānaccherakaṃ nabhe. (28)

Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, các thiên nhân ấy đã ngồi xuống ở cung điện của mỗi một vị và nở nụ cười vang vang.

 

Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā  - tiṇosadhinivāsino

katañjalī namassanti  - tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā. (29)

Các vị ngự ở không trung và ngự ở trên đất liền trang phục bằng lá cỏ, chắp tay lên nghiêng mình kính lễ (với vẻ) hớn hở, vui mừng, hoan hỷ.Không có ai tương đương về dáng vóc, về giới, về định, về tuệ. Ngài ngang bằng với các bậc không thể sánh bằng về sự giải thoát và trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.

 

Dasanāgabalaṃ kāye  - tuyhaṃ pākatikaṃ balaṃ

iddhibalena asamo  - dhammacakkappavattane. (39)

Các vị hãy kính lễ bậc Đại Hiền Triết, đấng Từ Bi, vị Chúa Tể Thế Gian đã được thành tựu tất cả các đức hạnh và đã đạt được toàn bộ các chi phần như thế ấy.

 

Abhivādanaṃ thomanañca  - vandanañca pasaṃsanaṃ

namassanañca pūjañca  - sabbaṃ arahasī tuvaṃ. (41)

Bạch đấng Đại Hùng, ở trên thế gian bất cứ những ai nên được đảnh lễ, những ai xứng đáng sự đảnh lễ, Ngài là vị đứng đầu tất cả. Người bằng Ngài không tìm thấy được.”

 

Sāriputto mahāpañño  - samādhijjhānakovido

gijjhakūṭe ṭhitoyeva  - passati lokanāyakaṃ. (43)

Sāriputta có đại trí tuệ, thông thạo về định và thiền, chiêm ngưỡng đấng Lãnh Đạo Thế Gian dầu đang đứng ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

 

Suphullaṃ sālarājaṃva  - candaṃva gagane yathā

majjhanhikeva suriyaṃ  - oloketi narāsabhaṃ. (44)

Vị ấy nhìn thấy đấng Nhân Ngưu trông giống như cây Sālā chúa nở hoa đều khắp, tương tợ như mặt trăng ở trên bầu trời, y như là mặt trời lúc chính ngọ.

 

Jalantaṃ dīparukkhaṃva  - taruṇasuriyaṃva uggataṃ

byāmappabhānurañjitaṃ  - passati lokanāyakaṃ. (45)

Vị ấy nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian rực rỡ ánh hào quang trông giống như cây trụ đèn đang cháy rực, tương tợ như mặt trời hừng đông đã ló dạng.

 

Pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ  - katakiccāna tādinaṃ

khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ  - khaṇena sannipātayi.(46)

Sāriputta đã tức thời tựu hội lại năm trăm vị tỳ khưu là những vị có các lậu hoặc đã tận, không còn ô nhiễm, có các phận sự đã được hoàn thành như thế ấy (nói rằng):

 

Lokappasādanaṃ nāma  - pāṭihīraṃ nidassayi

amhepi tattha gantvāna  - vandissāma mayaṃ jinaṃ. (47)

Đức Phật đã làm hiện rõ điều kỳ diệu tên là ‘Sự phô bày thế giới.’ Chúng ta cũng sẽ đi đến nơi ấy và chúng ta sẽ đảnh lễ đấng Chiến Thắng.

 

Etha sabbe gamissāma  - pucchissāma mayaṃ jinaṃ

kaṅkhaṃ vinodayissāma  - passitvā lokanāyakaṃ. (48)

Bố trí, (trì) giới, xuất ly, trí tuệ, tinh tấn là như thế nào? Nhẫn nại, chân thật, quyết định, bác ác, hành xả là như thế nào?

 

Dasapāramī mahāvīra  - kīdisā lokanāyaka

kathaṃ upapāramī puṇṇā  - paramatthapāramī kathaṃ.(77)

Đã quyết định bao nhiêu việc làm? Và điều chủ đạo là như thế nào? Các ba-la-mật là như thế nào? Các điều chắc chắn ở thế gian là như thế nào?

 

Mettā karuṇā muditā - upekkhā cāpi kīdisā

kīdisaṃ buddhadhammānaṃ - kevalaṃ paripūraya

(Lịch sử ấy) là điều làm tiêu tan các sự đắm say, là sự xua đi các nỗi buồn rầu, là việc hoàn toàn thoát khỏi luân hồi, là đạo lộ tiêu diệt tất cả khổ đau, các ngươi hãy nghiêm trang theo dõi.

Ratanacaṅkamanakaṇḍo niṭṭhito.

Dứt Chương Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu.

--ooOoo--


[1] Số thứ tự này được căn cứ theo Tạng Pāli của Anh (Pali Text Society) để tiện việc tham khảo. Những câu kệ thấy ở Tạng Thái (CD Budsir IV) nhưng không có ở Tạng Anh sẽ không được ghi số. 

[2] Là 180.000.000 vị. 1 koṭi = 10.000.000 (ND = người dịch).

[3] 1 nahuta = 10.000 (ND).

[4] Chú giải ghi nghĩa của dīpa theo cả hai cách: ngọn đèn và hòn đảo.

[5] Puṇṇa Mantāniputta, đệ nhất về thuyết Pháp, con trai nữ bà-la-môn Mantānī.

[6] Sáu cách là: trái đất ở trong mười ngàn thế giới đã nghiêng từ đông sang tây, từ tây sang đông, từ bắc qua nam, từ nam qua bắc, từ trung tâm ra bên ngoài, từ bên ngoài vào trung tâm.

[7] Con đường kinh hành này nối dài từ thế giới ở phía đông sang đến thế giới ở phía tây. Và đức Phật đã đi kinh hành từ đầu đường phía bên này sang đến điểm cuối con đường ở phía bên kia chứ không quay ngược trở lại lúc đang đi ở vào khoảng giữa.